Yên Hưng có một làng nghề...

Giữa thế kỷ 15, làng Hưng Học (xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng) được hình thành do các cụ Tiên Công ở vùng đồng bằng sông Hồng đến vùng bãi triều nơi cửa sông Bạch Đằng quai đê, lấn biển, lập làng.

Trong số các Tiên Công đến từ buổi đầu mở đất, có cụ Đặng Văn Tuân, tên  “huý”  thường gọi “Quý Đôn”, quê ở huyện Chí Linh (Hải Dương), thấy vùng đất bãi triều nơi cửa sông Bạch Đằng nhiều tôm, cua, cá, đã sáng tạo ra các loại lờ, đăng, đó để đánh bắt; ngoài ra cụ còn sáng tạo ra con thuyền nan, nhẹ nhàng, cơ động phục vụ cho công việc này, đồng thời để vận chuyển vật liệu trên sông, trên biển. Sau cụ, các thế hệ con cháu Hưng Học tiếp tục phát triển, tạo thành một nghề truyền thống của làng.

Yên Hưng có một làng nghề... ảnh 1
Người dân thôn Hưng Học vừa đan lờ vừa xem ti vi.

Nghề đan ngư cụ truyền thống làng Hưng Học ban đầu chỉ là những nghề phụ trong lúc nông nhàn, theo thời gian, từ chỗ phục vụ nhu cầu riêng, đã trở thành sản phẩm hàng hóa mua bán, trao đổi, mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho gia đình, cho làng xã. Từ chỗ chỉ một vài hộ gia đình, dần dần nghề đan ngư cụ lan rộng, hình thành nên một làng nghề đa dạng và phong phú như bây giờ...

Hiện nay ở thôn Hưng Học (xã Nam Hoà), ở hầu hết các gia đình, từ những em bé 6-7 tuổi đến các cụ già trên dưới 70 tuổi, cả nam và nữ, đều biết đan lờ. Người ta tranh thủ làm công việc này bất kể lúc nào, cả trong lúc xem ti vi hay trò chuyện cùng với bạn bè... Lờ đan có nhiều loại, có lờ bắt cá song, lờ bắt cá mại, lờ bắt cua, rạm, lờ bắt cá bống, cá bớp v.v... Mỗi loại lờ đều có kích cỡ khác nhau và kỹ thuật đan cũng khác nhau, từ khâu chọn tre, nứa đến vót nan, ra nan, đan ống, đan hom đan vỉ v.v... Giá cả đắt hay rẻ tuỳ thuộc vào từng loại lờ và vào mùa vụ; chẳng hạn như lờ song, lờ bớp, lờ mại giá từ 50 đến 60 nghìn đồng/chục cái; lờ rô, lờ bống rẻ hơn từ 25 đến 35 nghìn đồng. Nếu là hàng đặt trước, chất lượng cao hơn, giá sẽ cao hơn giá chợ từ 3 đến 4 lần. Theo ông Đỗ Văn Tậu, một người có thâm niên trong nghề này, thì nghề đan lờ tuy chỉ được coi là nghề phụ, nhưng hiện nay thu nhập của gia đình ông từ nghề này vẫn cao hơn 4-5 lần so với trồng lúa. Từ đan lờ, 60% số hộ trong thôn đã mua sắm được những phương tiện sinh hoạt đắt tiền, đời sống của bà con dần được cải thiện, tạo thêm công ăn việc làm cho lớp trẻ trong lúc nông nhàn...

So với đan lờ, số gia đình làm nghề đan thuyền chiếm ít hơn, chỉ vào khoảng 10-15% số hộ trong thôn và chỉ tập trung chủ yếu ở một, số dòng họ. Thuyền đan cũng có nhiều loại, như thuyền vận tải, thuyền đánh cá, thuyền đi biển, thuyền đi sông... Nhìn chung các loại thuyền đều giống nhau về kỹ thuật đan, như lên cạp, bó cốt, sơn và vào thang, nhưng khác nhau về hình dáng, kích thước và kết cấu một số bộ phận. Với đan thuyền, mỗi gia đình lại có bí quyết nhà nghề riêng. Nếu so với thuyền nhôm và thuyền nhựa, thuyền đan có nhiều ưu điểm, như nhẹ, cơ động, chịu sóng và nhất là giá rẻ hơn, nên ngày càng có nhiều người sử dụng thuyền nan. Nghề đan thuyền cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ gia đình. Ông Vũ Văn Hùng, một thợ đan thuyền nan ở Hưng  Học, nói: “Gia đình tôi có 5 người đều đan thuyền cả. Nói đó là công việc tranh thủ nhưng đem lại 90% thu nhập của chúng tôi”. Anh Vũ Văn Toàn (17 tuổi, con trai ông Hùng) còn khẳng định: “Đây là nghề có giá trị ngày công cao nhất và sau này nếu có con thì cũng phải hướng cho nó làm...”.

Cũng với thời gian, các sản phẩm của làng nghề Hưng Học không chỉ nổi tiếng tại địa phương mà còn được nhiều nơi khác trên cả nước biết đến. Năm 2002, lần đầu tiên, những sản phẩm thủ công của làng nghề Hưng Học được trưng bày, triển lãm và giới thiệu tại Bảo tàng Dân tộc học ở Hà Nội. Triển lãm đã thu hút được sự quan tâm chú ý của đông đảo giới báo chí, các nhà nghiên cứu, du khách trong và ngoài nước... Tiếng lành đồn xa, từ đây những sản phẩm của làng nghề Hưng Học đã có mặt ở khắp mọi nơi, từ Vân Đồn, Hải Hà, Móng Cái (Quảng Ninh) đến Cát Hải (Hải Phòng), Thái Bình, thậm chí có mặt cả ở thị trường Trung Quốc. Cũng chính từ lợi ích kinh tế mang lại, cộng đồng dân cư nơi đây đã từng bước xây dựng nên những làng nghề chuyên sâu, sản xuất hàng hóa mang tính chuyên nghiệp hơn, sản phẩm làm ra ngày càng tinh xảo, bền, đẹp và mang lại giá trị kinh tế cao. Xưởng đóng thuyền nan của anh Vũ Văn Thẻ đã thận được nhiều hợp đồng đóng mới thuyền nan, thuyền gỗ đi biển, cung cấp cho ngư dân Thái Bình, Nam Định và các làng  chài lân cận...

Sản phẩm của làng nghề Hưng Học đã dần khẳng định được thương hiệu, đóng góp một phần không nhỏ tạo dựng nên hình ảnh và nét văn hóa của người dân vùng đảo Hà Nam. Mỗi cái lờ hay mỗi chiếc thuyền nan không chỉ là một sản phẩm thủ công đơn thuần mà còn mang đậm nét văn hóa đặc trưng của vùng miền, chứa đựng trong đó hồn cốt của quê hương và tâm huyết của người làm nghề. Chính những yếu tố đó đã giúp cho tiếng tăm của làng nghề bay xa và bước đầu thu hút được sự chú ý của khách du lịch cũng như của các đối tác, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tới tham quan làng nghề. Từ những hiệu quả rất thiết thực trên cho thấy, nếu chúng ta có những cơ chế, chính sách cụ thể và những hướng khai thác nhất định để gắn phát triển làng nghề với phát triển du lịch sẽ là một giải pháp tốt để bảo tồn và phát triển các làng nghề, đồng thời khai thác thế mạnh của các làng nghề phục vụ phát triển du lịch...

Cùng chuyên mục