Bài thơ khắc ở núi Con Mèo không phải của Vua Trần Nhân Tông

Báo Quảng Ninh số 6681 ra ngày thứ bảy 23-6-2007, ở trang 3, trong mục “Đất Quảng Ninh – Người Quảng Ninh”, có đăng bài: “Bài thơ khắc ở núi Con Mèo” của tác giả Nguyễn Xuân (có ảnh di tích bài thơ trên của tác giả in kèm theo nhưng chữ nhỏ quá và mờ). Bài thơ được dẫn như sau:

Đứng thốc trên sông một đọi đèo

Văn hình ra thể dáng con mèo

Đá xương đất thịt da xanh ngắt

Cỏ vện hoa vằn dạ mốc meo

Cáo thỏ kinh hơi rừng vắng ngắt

Kình nghê tăm bặt nước trong veo

Xanh rì vũ trụ chân nghèo vững

Ắt hẳn ngàn năm kín chẳng nghèo

Bài thơ bằng chữ Nôm. Tác giả Nguyễn Xuân viết “tương truyền là của Trần Nhân Tông”. Theo tôi nhớ, thì trên bài thơ có đề rõ ràng: ”Hoàng đế Trần Nhân Tôn” (chứ không phải Nhân Tông) ngự đề”. Bên cạnh có dòng lạc khoản ghi đúng như tác giả Nguyễn Xuân đã nêu: đại ý năm Trùng Hưng thứ 8 (1292) mùa xuân, vua Trần qua đây. Tôi cũng còn nhớ trong bài, có chữ khác với bản Nguyễn Xuân đã dẫn:

Đá xương đất thịt da không mốc
Cỏ vện hoa vằn dạ chẳng meo

Đặc biệt câu 7: “Xanh trì vũ trụ chân ngoèo vững”. Vì viết theo trí nhớ nên tôi không biết đúng sai thế nào. Nhưng chữ “chân ngoèo vững” thì phải hơn “chân nghèo”, vì ngoèo là chân choẽ ra, bám chặt vào đất để trụ vững. Hơn nữa, theo phép làm thơ, câu 8 đã có chữ nghèo thì câu 7 chữ ngoèo là phải.

Năm 1962, tôi đã đứng trước bài thơ này. Từ 1964 đến 1967 tôi đã dạy học ở Yên Đức, nên ra thăm bài thơ núi Mèo luôn. Núi ở cạnh bến phà Đụn, trên 1/3 mặt sông Đá Bạc, phần sau núi là đê làng Đồn Sơn, nước rút, sông rất hẹp và nông, có thể lội qua được. Phía trước, chỗ vòm đá có khắc bài thơ, là khoảng nước sâu thẳm cho thuyền bè qua lại, lọt giữa vách đá dựng đứng (đứng thốc) của núi Mèo trên sông và núi đá bên bờ nam thuộc xã Phi Liệt, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.

Có điều, bài thơ này không phải là của vua Trần Nhân Tông mà là của một viên quan triều Nguyễn nào đó, có tài thơ, làm, rồi bí mật cho khắc vào đá sau năm 1841. Vì tác giả kiêng chữ Tông là tên huý của vua Thiệu Trị nhà Nguyễn là Nguyễn Miên Tông (1841-1847) nên đổi Tông thành Tôn theo quy định của nhà nước. Hơn nữa thể thơ nôm thất ngôn bát cú luật Đường ở thời Trần mới sơ khai, văn bản đều đã thất lạc. 200 năm sau, ở thời Lê qua các thi hào thi bá là Nguyễn Trãi (1380-1442) Lê Thánh Tông (1442-1497) thể thơ này vẫn chưa hoàn chỉnh, thường xen những câu chỉ có lục ngôn: “Nẻo từ nước có đao binh/Nấn ná am quê, cảnh cực thanh” (Nguyễn Trãi), hoặc “Lòng vì thiên hạ những sơ âu/Thay việc trời dám trễ đâu” (Lê Thánh Tông ). Sự hoàn thiện về niêm luật, với các vế đối chặt chẽ, thực luận rõ ràng như bài Núi Mèo là thơ nôm thất ngôn bát cú thời Nguyễn giai đoạn vẻ vang nhất, đỉnh điểm nhất là giai đoạn Nguyễn Khuyến, Tú Xương rồi. Nghĩa là đã cận đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đặc biệt chữ thốc trong câu Đứng thốc trên sông thì hay vô cùng, mới lạ và rất hiện đại. Tôi nghĩ rằng bài thơ này khắc vào đá núi Mèo khoảng năm 1920-1930 nghĩa là cùng thời với nhiều bài thơ của các quan nhà Nguyễn ở Núi Bài Thơ.

Tôi đã viết về sự khẳng định này đăng ở báo Quảng Ninh và báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) từ 20 năm trước. Nay thấy tác giả Nguyễn Xuân nêu ra thì xin được trao đổi lại. Chưa rõ thơ của ai nhưng chắc chắn không phải thơ của vua Trần Nhân Tông, cũng không phải thơ thời Trần.

Cùng chuyên mục