Sau khi đọc được công văn số 1737/STP-KTVB ngày 23-7-2007 của Sở Tư pháp tỉnh ‘’V/v đề nghị gửi chứng từ làm căn cứ chi kinh phí hỗ trợ cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật’’, chúng tôi thấy thủ tục hành chính ở lĩnh vực tài chính vẫn chưa được cải cách.
Nội dung công văn 1737/STP-KTVB thông báo mức chi kinh phí hỗ trợ tối đa đối với một văn bản ban hành mới hoặc thay thế là 1,1 triệu đồng; đối với văn bản sửa đổi, bổ sung tối đa là 1 triệu đồng/văn bản. Trong đó gồm chi cho soạn thảo văn bản (500 ngàn đồng/văn bản mới, 400 ngàn đồng/văn bản sửa đổi, bổ sung), số còn lại chi cho các nội dung khác như hội thảo, làm thêm giờ, in ấn tài liệu... Theo đó yêu cầu cơ quan xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VB QPPL) phải gửi hồ sơ gồm 8 loại chứng từ: Văn bản QPPL do cơ quan mình soạn thảo đã được HĐND, UBND tỉnh thông qua, ban hành (bản sao); báo cáo thẩm định của Sở Tư pháp (bản sao); phiếu đề xuất lãnh đạo cơ quan xét duyệt các nội dung liên quan đến việc soạn thảo văn bản (có ký duyệt và đóng dấu xác nhận cơ quan); biên bản cuộc họp hội thảo phục vụ cho việc soạn thảo văn bản (nêu tên đầy đủ các cá nhân tham gia hội thảo); bảng kê chi tiền cho người tham dự hội thảo phục vụ cho việc soạn thảo văn bản (có mẫu in kèm theo); hoá đơn in ấn tài liệu, mua văn phòng phẩm; phiếu đề nghị thanh toán (có ký duyệt và đóng dấu xác nhận cơ quan) gửi Sở Tư pháp, trong đó có liệt kê đầy đủ các nội dung chi và mức chi; tổng số tiền đề nghị chi hỗ trợ.
Qua yêu cầu trên, chúng tôi thấy: Thứ nhất, giả sử cơ quan soạn thảo VB QPPL kê được đầy đủ các loại chứng từ như yêu cầu trên thì số chi thực tế vượt rất nhiều so với số 1,1 hoặc 1 triệu đồng hỗ trợ theo quy định. Mặt khác, thực tế, cơ quan soạn thảo VB QPPL thường không tách riêng việc soạn thảo VB QPPL với các việc chuyên môn khác của cơ quan. Bởi trong quá trình công tác, cơ quan thấy cần thiết phải có văn bản QPPL để điều chỉnh lĩnh vực công tác của cơ quan mình thì đề xuất, trình UBND tỉnh cho xây dựng và ban hành VB QPPL đó. Trên cơ sở đó, cơ quan soạn thảo văn bản không phải là nơi chuyên sản xuất các loại văn bản QPPL, họ chỉ xây dựng VB QPPL theo nhu cầu thực tế của lĩnh vực chuyên môn mà cơ quan mình đảm nhận. Do vậy, việc soạn thảo VB QPPL là một trong số những tác nghiệp của cơ quan, không thể tách riêng thành một việc độc lập, vì thế theo đó mà không thể tách phần in ấn tài liệu, mua văn phòng phẩm riêng để có hoá đơn riêng được. Thứ hai, đây là loại chi hỗ trợ chứ không phải chi đầu tư, mà mức hỗ trợ tối đa chỉ có 1,1 triệu đồng, nếu cơ quan soạn thảo kê được đầy đủ các chứng từ chi thực tế thì cơ quan có thẩm quyền chi cũng có chi được hết số thực chi thể hiện trên các loại chứng từ đó không? Thứ ba, để có một sản phẩm là VB QPPL đã được HĐND, UBND tỉnh thông qua, ban hành thì cơ quan soạn thảo bắt buộc phải thực hiện các tác nghiệp theo quy định, bắt buộc phải tuân thủ những quy trình soạn thảo một VB QPPL, phải mất nhiều thời gian để cho ra một VB QPPL đạt chất lượng (được HĐND, UBND tỉnh chấp nhận). Cho nên, theo tôi, có lẽ không cần thiết phải có các loại chứng từ như: Báo cáo thẩm định của Sở Tư pháp; phiếu đề xuất lãnh đạo cơ quan xét duyệt nội dung (tổ chức hội thảo, làm thêm giờ...); biên bản họp hội thảo; bảng chấm công làm thêm giờ... Những giấy tờ đó là vô nghĩa khi đã có một căn cứ quan trọng, chủ đạo đó là VB QPPL- sản phẩm được hỗ trợ chi kinh phí.
Từ những lý lẽ trên, theo tôi, những căn cứ làm cơ sở đề nghị chi kinh phí hỗ trợ việc soạn thảo VB QPPL chỉ cần 2 loại văn bản, giấy tờ sau là đủ: Văn bản QPPL do cơ quan chuyên môn soạn thảo đã được HĐND, UBND tỉnh thông qua, ban hành; phiếu đề xuất thanh toán của cơ quan soạn thảo văn bản. Đành rằng nguyên tắc tài chính là chỉ chi khi có đầy đủ các chứng từ, nhưng chúng ta cũng cần phải vận dụng linh hoạt cho những việc chi hỗ trợ, mức chi nhỏ để tránh những thủ tục rườm rà, không cần thiết, thậm chí còn là cái cớ để các đối tượng buộc phải ‘’vẽ ra’’ các khoản chi không có thực để được thanh toán.