Tháng 4 vừa qua, Sở Tư pháp đã tiến hành đợt kiểm tra, rà soát toàn bộ văn bản do HĐND, UBND huyện Bình Liêu ban hành từ ngày 1-1-2010 đến ngày 31-12-2012, với tổng số 12.164 văn bản, trong đó 43 văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) và 12.121 văn bản hành chính, áp dụng pháp luật. Về cơ bản, việc ban hành đảm bảo các yêu cầu: Sự cần thiết, thẩm quyền, nội dung phù hợp... Tuy nhiên, vẫn còn 32 văn bản sai sót trong viện dẫn căn cứ pháp lý, chưa đúng về thể thức, kỹ thuật trình bày, thẩm quyền ban hành, nội dung.
Cụ thể có 3 văn bản viện dẫn căn cứ pháp lý thiếu số, ngày, tháng ban hành; 7 văn bản viện dẫn căn cứ pháp lý hết hiệu lực; 3 văn bản thiếu trích yếu nội dung; 3 văn bản không có chủ thể ban hành; 1 văn bản sai sót chủ thể ban hành; 2 văn bản trình bày không đúng số kí hiệu; 2 văn bản sai sót thẩm quyền ký; 5 văn bản sai sót thẩm quyền nội dung; 2 văn bản sai sót thẩm quyền hình thức. Trong số 4 văn bản sai sót nội dung đều liên quan đến lĩnh vực quản lý đất đai và xử lý vi phạm hành chính. Đơn cử, văn bản số 1186/QĐ-UBND (ngày 9-8-2010) của UBND huyện, tại Điều 1 quy định: “Thu hồi đất của 17 tổ chức, các hộ gia đình, cá nhân tại thôn Sú Cáu, xã Húc Động; thôn Cao Sơn, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu để xây dựng công trình đường giao thông thôn Lục Ngù - Khe Tiền huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Tổng diện tích đất thu hồi 405.405,0m2”. Danh sách tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất gồm Công ty Lâm nghiệp huyện và 16 hộ gia đình, cá nhân.
Căn cứ Khoản 1, Điều 44 Luật Đất đai năm 2003 “Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”, thì việc UBND huyện Bình Liêu thu hồi đất của Công ty Lâm nghiệp huyện là trái pháp luật.
Đồng chí Ngô Văn Sơn, Phó Giám đốc Sở Tư pháp cho biết, kết thúc đợt kiểm tra, rà soát, Sở đã có thông báo kết luận, trong đó đề nghị HĐND, UBND huyện rút kinh nghiệm trong soạn thảo và ban hành văn bản cần trích dẫn đầy đủ căn cứ pháp lý, rà soát đối chiếu ngày, tháng, năm ban hành, thời điểm có hiệu lực của các văn bản được sử dụng làm căn cứ pháp lý, để việc trích dẫn các căn cứ pháp lý đúng theo trình tự luật định và đảm bảo tính hiệu lực của văn bản. Qua đó, các cơ quan tham mưu, nhất là các Phòng Tư pháp ở các huyện, thị xã và thành phố cần nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ thẩm định, tự kiểm tra văn bản QPPL, kịp thời tham mưu, đề xuất biện pháp xử lý đối với những văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.
Yên Thanh