Thời gian qua, Báo Quảng Ninh đã nhận được nhiều kiến nghị của một số cán bộ, công nhân xung quanh vấn đề cổ phần hoá, cổ phiếu và bán cổ phần, cổ phần ưu đãi cho người lao động tại một số đơn vị ngành Than.
Trong đó có đơn của anh Nguyễn Đình Hậu và một số công nhân Công ty cổ phần Than Hà Lầm thắc mắc về việc: Công ty cổ phần Than Hà Lầm bán cho anh 1.289 cổ phần với giá là 32.725đ một cổ phần (1.289 x 32.725 = 42.183.556đ). Nhưng khi Công ty phát sổ chứng nhận sở hữu cổ phần của anh chỉ ghi số cổ phần là 1.289 với mệnh giá là 10.000 đ/cổ phần (1.289 x 10.000 = 12.293.556đ). Vậy số tiền chênh lệch 29.293.556đ ở đâu? Nếu sau này Công ty chi trả cổ tức thì trả theo mệnh giá nào? 10.000đ/cổ phần hay là 32.725đ/cổ phần? Tại sao sau khi phát Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần, Công ty không trả lại cho chúng tôi phiếu thu tiền thì sau này căn cứ vào đâu để chia cổ tức…?
Sau khi nhận được đơn của anh Nguyễn Đình Hậu và một số bạn đọc khác, chúng tôi đã tham khảo một số văn bản, Nghị định của Chính phủ về cổ phần hoá và cổ phiếu, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định 109/2007/NĐ-CP, Thông tư 146/2007/BTC, đồng thời tham khảo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế về lĩnh vực cổ phần hoá doanh nghiệp, chứng khoán. Chúng tôi cũng đã làm việc với Ban Cổ phần hoá Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), lãnh đạo Công ty cổ phần Than Hà Lầm xung quanh các vấn đề mà bạn đọc nêu trên. Chúng tôi xin trao đổi một số thông tin để bạn đọc cùng tham khảo.
Cổ phiếu là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành. Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Trường hợp CBCN-LĐ Công ty cổ phần Than Hà Lầm nhận Giấy sở hữu cổ phần tức là đã được xác nhận quyền sở hữu cổ phần của mình ở công ty.
Theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần tại Chương 4, Điều 37 thì giá bán cổ phần lần đầu là giá bán theo phương thức đấu giá công khai. Theo phương thức này, các nhà đầu tư trúng thầu ở mức giá nào thì mua cổ phần ở mức đó. Giá bán ưu đãi là giá bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp bằng 60% giá đấu thành công bình quân qui định tại khoản 1 Điều này. Đối với những doanh nghiệp đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, giá bán cổ phần ưu đãi cho người lao động có thể thấp hơn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Về vấn đề mà anh Nguyễn Đình Hậu và một số công nhân của Công ty cổ phần Than Hà Lầm thắc mắc, sau khi làm việc với Ban Cổ phần hoá của TKV chúng tôi xin trả lời anh như sau:
Theo qui định tại Khoản 1, Điều 9 của Nghị định 109/2007/NĐ-CP thì “vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, mệnh giá một cổ phần là 10.000 đồng”. Như vậy mệnh giá 1 cổ phần được thống nhất trên toàn quốc chỉ là 10.000 đồng, nhưng khi doanh nghiệp bán cổ phần thì cổ đông có thể mua cổ phần đó với các mức giá khác nhau (nhưng vẫn chỉ được tính giá trị là 10.000 đồng).
Khi tiến hành cổ phần hoá Công ty cổ phần Than Hà Lầm, TKV giữ lại 51% vốn điều lệ; còn lại 49% vốn điều lệ, thì 29% vốn bán với giá ưu đãi cho công nhân, 20% bán cho các nhà đầu tư bên ngoài tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội theo hình thức đấu giá (ai trả giá cao nhất thì được quyền mua). Kết quả Công ty đã bán được cho các nhà đầu tư bên ngoài với giá bình quân là 53.303 đồng/cổ phần, tức là nhà đầu tư bên ngoài Công ty phải trả 53.303 đồng để mua 1 cổ phần với mệnh giá là 10.000 đồng. Cũng tại thời điểm đó CBCN-LĐ Công ty được mua với giá ưu đãi là 32.725đồng/1 cổ phần với mệnh giá là 10.000 đồng.
Như vậy việc CBCN-LĐ Công ty cổ phần Than Hà Lầm mua cổ phần với giá 32.725 đồng/1 cổ phần nhưng trong Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần ghi là 10.000 đồng/cổ phần là đúng với qui định hiện hành của Nhà nước và hiện tại tất cả các đơn vị trong TKV đều thực hiện đúng như vậy.
Về số tiền chênh lệch giữa 32.725 đồng/1 cổ phần so với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần, theo qui định của pháp luật hiện hành được chuyển về Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp của TKV để chi trả chi phí cổ phần hoá, chi trợ cấp lao động dôi dư, đầu tư phát triển doanh nghiệp, Công ty cổ phần Than Hà Lầm không được giữ số tiền trên.
Khi chia cổ tức cho cổ đông, Công ty sẽ căn cứ vào số cổ phần sở hữu của cổ đông, trên cơ sở lợi nhuận thực tế của công ty để chia. Sau khi cổ đông được phát Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần và khi cổ phiếu của Công ty được niêm yết trên sàn giao dịch thì cổ đông có quyền bán, sang nhượng sở hữu tuỳ theo giá cả thị trường không phụ thuộc vào việc ai làm Giám đốc, hoặc Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty.
Công ty cổ phần Than Hà Lầm cho biết: Thực hiện kế hoạch cổ phần hoá của Tập đoàn TKV, Công ty đã triển khai các bước cổ phần hoá theo đúng qui định tại Nghị định 109/2007/NĐ-CP. Công ty đã tổ chức tập huấn cho lãnh đạo các phòng ban, phân xưởng về cổ phần hoá để phổ biến lại cho người lao động nhưng do công tác tuyên truyền, giải thích chưa thấu đáo nên người lao động chưa hiểu cặn kẽ, dẫn đến gây thắc mắc trong một số công nhân. Về việc này lãnh đạo Công ty sẽ rút kinh nghiệm và sẽ có biện pháp tuyên truyền, hướng dẫn, tư vấn cho người lao động kỹ lưỡng hơn. Còn về việc chưa phát biên lai phiếu thu tiền cho cổ đông là vì để tránh nhầm lẫn nên Phòng Kế toán Công ty sẽ đợi bao giờ phát hết sổ chứng nhận sở hữu cổ phần cho cổ đông sẽ trả lại biên lai phiếu thu tiền cho cổ đông.