Từ những định hướng chiến lược của Trung ương, Quảng Ninh đang tập trung cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ sát thực tiễn. Đặc biệt, trong không gian phát triển mới của thành phố, yêu cầu đặt ra không chỉ là triển khai đầy đủ các nghị quyết, mà quan trọng hơn là tạo chuyển biến thực chất trong quản trị, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết số 36/2026/QH16 về thành lập thành phố Quảng Ninh, có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với địa phương. Với diện tích tự nhiên hơn 6.231km², dân số trên 1,5 triệu người và 54 đơn vị hành chính cấp xã, Quảng Ninh có không gian phát triển rộng lớn, kết nối các trung tâm đô thị, vùng biển, đảo, biên giới, cửa khẩu, khu kinh tế, khu công nghiệp và hệ thống di sản. Quy mô và tiềm năng mới đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực quản trị, tổ chức nguồn lực và hiệu quả thực thi các chủ trương, chính sách.
Trong bối cảnh đó, đưa nghị quyết vào cuộc sống không thể dừng ở việc tổ chức học tập, quán triệt, hay ban hành các chương trình hành động. Điều quan trọng là mỗi mục tiêu phải được chuyển thành nhiệm vụ cụ thể, có lộ trình, nguồn lực, cơ quan chịu trách nhiệm và cơ chế kiểm tra, đánh giá rõ ràng. Nghị quyết chỉ thực sự phát huy giá trị khi tạo ra những thay đổi có thể nhận diện trong thực tiễn, từ môi trường đầu tư, chất lượng dịch vụ công, đến cơ hội phát triển và mức sống của người dân.
Thời gian qua, Quảng Ninh đã chủ động cụ thể hóa các nghị quyết chiến lược của Trung ương, gắn định hướng lớn với yêu cầu phát triển của địa phương. Việc triển khai các nghị quyết về KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hội nhập quốc tế; đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, văn hóa và các lĩnh vực quan trọng khác được đặt trong mối liên hệ với mục tiêu tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới mô hình phát triển.
Đáng chú ý, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đầu năm 2026, Quảng Ninh đã cụ thể hóa bằng những văn bản triển khai phù hợp. Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Kế hoạch số 37-KH/TU ngày 26/2/2026 thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW; Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 13/2/2026 triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW. Các nhiệm vụ được định hướng gắn với thực tiễn, từ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước, đến phát huy giá trị di sản, phát triển du lịch, dịch vụ, công nghiệp văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.
Cùng với đó, Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 30/10/2023 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Quảng Ninh tiếp tục có ý nghĩa thiết thực trong giai đoạn phát triển mới. Với quan điểm coi con người vừa là trung tâm, chủ thể, vừa là nguồn lực và động lực quan trọng của phát triển, nghị quyết đặt ra yêu cầu chuyển hóa các giá trị văn hóa, bản sắc và phẩm chất con người Quảng Ninh thành sức mạnh nội sinh. Trong không gian thành phố rộng lớn, nhiệm vụ này càng cần được triển khai đồng bộ, bảo đảm vừa phát huy bản sắc riêng của từng địa bàn, cộng đồng, vừa xây dựng môi trường văn hóa thống nhất, văn minh.
Quảng Ninh đang đứng trước cơ hội kết nối và phát huy tốt hơn những lợi thế về kinh tế biển, du lịch, công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, thương mại biên giới và di sản. Tuy nhiên, lợi thế chỉ có thể chuyển hóa thành động lực tăng trưởng khi được hỗ trợ bởi quy hoạch phù hợp, hạ tầng đồng bộ, thể chế thông thoáng, nguồn nhân lực chất lượng cao và bộ máy quản trị hoạt động hiệu quả. Bởi vậy, việc triển khai nghị quyết cần được đặt trong tổng thể các mục tiêu phát triển của thành phố.
Với những định hướng về KHCN và chuyển đổi số, trọng tâm không chỉ là đầu tư hạ tầng, hay ứng dụng công nghệ, mà còn phải cải tiến quy trình xử lý công việc, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Với các nghị quyết về phát triển kinh tế, nhiệm vụ cần hướng tới tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và thu hút những dự án có công nghệ, giá trị gia tăng cao. Với các nghị quyết về văn hóa, giáo dục và con người, kết quả phải được thể hiện bằng chất lượng nguồn nhân lực, môi trường sống, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và mức độ thụ hưởng thành quả phát triển của người dân.
Đặc thù của Quảng Ninh là không gian phát triển bao gồm cả đô thị, nông thôn, miền núi, biên giới, biển và đảo. Vì thế, cùng một chủ trương nhưng cách tổ chức thực hiện cần phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Những khu vực có lợi thế về công nghiệp, dịch vụ và đô thị cần chú trọng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sống; các địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo cần được quan tâm về hạ tầng, giáo dục, y tế, sinh kế và khả năng tiếp cận dịch vụ công. Bảo đảm tính thống nhất trong định hướng, linh hoạt trong cách làm sẽ giúp nghị quyết đi vào đời sống một cách thực chất, hạn chế khoảng cách phát triển giữa các khu vực.
Những kết quả đạt được trong 9 tháng năm 2026 sẽ tiếp tục tạo nền tảng quan trọng để Quảng Ninh bước vào giai đoạn phát triển mới. GRDP tăng 12,54%, đứng đầu cả nước; tổng thu NSNN đạt hơn 80.327 tỷ đồng; du lịch đón khoảng 18,8 triệu lượt khách, doanh thu đạt 56.400 tỷ đồng. Thành phố cũng tạo thêm 23.650 việc làm, đạt 100,6% kế hoạch; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 96,46%. Những con số này phản ánh kết quả phát triển trên nhiều lĩnh vực, từ tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách đến dịch vụ và an sinh xã hội.
Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng và phát huy hiệu quả không gian phát triển mới, Quảng Ninh cần tiếp tục tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh GPMB, giải ngân vốn đầu tư công, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP cả năm trên 13%, tổng thu NSNN trên 100.000 tỷ đồng, giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công theo chỉ tiêu được giao. Để đạt mục tiêu, thành phố cần cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, xác định rõ nhiệm vụ, tiến độ và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Công tác kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên, gắn với kết quả đầu ra và hiệu quả giải quyết công việc; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Đây là cơ sở để bảo đảm các chủ trương được triển khai đồng bộ, thực chất, tạo chuyển biến trong quản lý, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.