Năm 1996, ông Nguyễn Duy Hưng (sinh năm 1947) ly hôn với bà Trần Thị Thục, được TAND tỉnh xử phúc thẩm, ''giao sử dụng 400m2 đất ở tổ 48, đường Bà Triệu, phường Cẩm Đông’’. Mẹ con bà Thục được giao 293m2 đất liền kề (có nhà). Vì đất giao không được Toà định vị cụ thể, nên nhiều năm sau, cơ quan thi hành án không thi hành được bản án này. Sau đó, không biết họ tự thoả thuận như thế nào, mà bà Nguyễn Thị Oanh lại được sử dụng phần đất chia cho ông Hưng.
Tháng 5-2001, ông Hưng đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị Mai, trú tại tổ 18C (cùng phường). Hai người thoả thuận: bà Mai bán nhà và chuyển nhượng QSDĐ riêng của mình sáp nhập vào tài sản chung của vợ chồng. Số tiền bán nhà và đất này cùng một số tư trang khác bà Mai giao lại cho ông Hưng. Họ vay mượn thêm tiền xây khoảng gần 200m2 gồm 8 gian, phòng (nhà cấp 4) và một nhà mái chekhung bê tông, kèo sắt, làm dịch vụ cho thuê nhà nghỉ. Từ đầu năm 2002 đến cuối năm 2006, vợ chồng ông Hưng vừa đổ đất, tôn tạo thêm mặt bằng phía ngoài, đồng thời triển khai xây ngôi nhà 3 tầng trên điện tích 140,4m2 đất lấn biển, gồm 18 phòng nghỉ khép kín và một cầu thang giữa căn nhà, cùng nhiều hạng mục khác. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông Hưng sống thiếu chung thuỷ. Tháng 3-2007, ông Hưng khởi kiện yêu cầu ly hôn.
Ngày 11-7-2007, Hội đồng định giá tài sản do Phó Chánh án Đàm Thị Tồng đề nghị thành lập đã tiến hành việc định giá tài sản chung của vợ chồng ông Hưng là cơ sở cho việc có thể hoà giải tiếp, cũng như phán quyết sau này của Toà. Chủ tịch Hội đồng là ông Võ Ngọc Bích, chuyên viên Phòng Quản lý đô thị TX Cẩm Phả, các thành viên khác là đại diện Phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng Tài chính - Kế hoạch và UBND phường Cẩm Đông (Cẩm Phả). Hội đồng xếp ngôi nhà 3 tầng có kết cấu khung và tường chịu lực xây trên đất lấn biển (khấu hao còn 90%) là nhà cấp 4 để áp dụng đơn giá là 540.000 đ/m2 xây dựng. Toàn bộ ngôi nhà có tổng diện tích 421m2 sàn, được định giá204.703.200 đồng... Riêng. khu nhà cấp 4 (162,4m2) không tính nhà mái che, trừ khấu hao còn 90%, áp dụng đơn giá là 420.000 đ/m2. Chỉ riêng bà Mai không chấp nhận kết quả định giá này. Ngày 18-10-2007, Thẩm phán Phạm Quang Hanh, tiến hành các thủ tục định giá lại lần thứ 2. Đại diện Phòng Quản lý Đô thị và UBND phường Cẩm Đông không có sự thay đổi. Trong lần định giá này, HĐĐG lại chuyển sang áp dụng Quyết định số 4005/2004/QĐ-UB của UBND tỉnhvề bồi thường GPMB. Hội đồng lấy đơn giá 1.015.000 đ/m2 tính cho một nửa ngôi nhà 3 tầng có kết cấu tường chịu lực là 210,6m2 và một nửa diện tích có khung bê tông chịu lực được áp dụng đơn giá 1.029.000 đ/m2. Theo đó, giá trị móng nhà được tính bằng 10% cũng bị kéo thấp xuống theo. Riêng khu nhà cấp 4 lại được áp dụng đơn giá là 319.000 đ/m2 (thấp hơn lần định giá trước). Với cách áp dụng này, HĐĐG lại một lần nữa không đảm bảo nguyên tắc ‘’sát giá thị trường tại thời điểm định giá’’. Mặt khác, theo QĐ số 4005... thì Hội đồng còn để thiếu nhiều phần công việc khác như: Trang, thiết bị nhà vệ sinh; hệ thống cấp điện; cấp thoát nước trong nhà; giá trị ốp lát và nhiều hạng mục mà các bên đương sự đã không tự thoả thuận được phải nhờ ‘’trọng tài’’ là cơ quan Nhà nước.
Hậu quả của việc định giá tuỳ tiện này đã gây không ít lãng phí về thời gian và tiền của. Mỗi lần định giá, đương sự đều phải nộp tiền, các cơ quan có liên quan phải bố trí cán bộ tham gia. Nhưng đến nay vẫn chưa có hình thức xử lý nào đối với những người thiếu trách nhiệm, thậm chí cố ý làm saivề định giá tài sản (tại thời điểm Hội đồng định giá, giá xây dựng 1m2 nhà 3 tầng tương tự ở Cẩm Phảtừ 2,7 -3 triệu đồng/m2). Điều đáng nói, việc định giá sai đã dẫn đến án xử không đảm bảo công minh, người dân thiếu tin tưởng vào sự công bằng của pháp luật.