Hướng dẫn thu phí bảo vệ môi trường đối với một số trường hợp

Thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản theo Thông tư 105/2005/TT-BTC ngày 30-11-2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 137/2005/NĐ-CP ngày 9-11-2005 của Chính phủ trong thời gian qua còn có vướng mắc trong việc xác định cụ thể một số loại khoáng sản thuộc diện chịu phí, thủ tục thu, nộp phí và tỷ lệ quy đổi đơn vị tính của một số loại khoáng sản.

 Để thuận tiện cho việc thu, nộp phí, vừa qua, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện và nội dung chính như sau:

Đối với “Đất làm gạch ngói nung” được xếp vào loại “sét” có mức thu phí 1.500 đồng/tấn; “Đất làm cao lanh” là 5.000 đồng/m3; “Đất để san lấp”là 1.000 đồng/m3 (không phân biệt là công trình sử dụng cho mục đíchsản xuất, kinh doanh, sinh hoạt hay công cộng; công trình có nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước hay không thuộc ngân sách nhà nước...). Trường hợp đơn vị thực hiện việc đào đất để làm móng công trình, đào đất chỗ cao để đắp vào chỗ thấp trong cùng một công trình hoặc đào phá các móng đường, mặt đường, nền nhà cũ để san lấp ngay trên cùng công trường đang thi công xây dựng thì không phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản cho việc làm đất trong quá trình thi công. Đối với “Sỏi” có mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản 4.000 đồng/m3 còn được gọi là cuội, sạn, được dùng làm vật liệu xây dựng, không chứa vàng, platin, đá quý và bán quý (thạch anh mỹ nghệ, saphia...).

Về tỷ lệ quy đổi đơn vị tính trong thu phíbảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản:

Đối với việc quy đổi giữa tấn sang m3 và ngược lại từ m3 sang tấn của các loại khoáng sản thực hiện như sau: Trường hợp trong báo cáo thăm dò khoáng sản có xác định tỷ lệ quy đổi thì lấy theo tỷ lệ quy đổi nêu trong báo cáo thăm dò khoáng sản. Trường hợp trong báo cáo thăm dò khoáng sản không có số liệu thì cơ quan thuế phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan (như: cơ quan tài nguyên và môi trường, đơn vị khai thác khoáng sản...) thực hiện đo lường khoáng sản ở trạng thái tự nhiên tại một số vị trí của mỏ, sau đó thống kê và lấy giá trị trung bình làm số liệu cần quy đổi.

Đối với việc khai thác đá: Theo hướng dẫn tại Thông tư 105/2005/TT- BTC, mức thu phí được tính trên một đơn vị sản phẩm khoáng sản tại nơi khai thác (đá nguyên khai, đá hộc). Trường hợp đơn vị khai thác khoáng sản sử dụng máy móc, thiết bị khai thác, chế biến khép kín cần quy đổi đá thành phần (sau khi khai thác) về đá nguyên khai để xác định số phí phải nộp thì cơ quan thuế căn cứ vào số lượng đá thành phẩm khai thác được trong tháng chia cho công suất thực tế sử dụng trong tháng, hoặc xác định qua lấy mẫu một đơn vị khoáng sản (đá) cần khai thác và số lượng đá thành phẩm có được sau quá trình khai thác, chế biến khép kín của máy móc, thiết bị để xác định tỷ lệ tính cho phù hợp với từng loại đá được khai thác.

Cùng chuyên mục