Lương tâm, trách nhiệm thẩm phán ở đâu?

Ông Nguyễn Duy Hưng và bà Nguyễn Thị Mai ở phường Cẩm Đông (Cẩm Phả), đăng ký kết hôn tháng 5-2001. Họ sáp nhập tài sản là giá trị căn hộ và khoảng 60m2 đất cùng tiền bán tư trang của bà Mai (trị giá tương đương 2 suất đất khoảng trên 200m2 đất cùng loại với khoảng 300m2 đất ông Hưng đang sử dụng) thành tài sản chung, bao gồm: Diện tích đất đang sử dụng của ông Hưng ở tổ 48, phường Cẩm Đông, và xấp xỉ 240m2 nhà cấp 4 (bao gồm: Khoảng 60m2 nhà xưởng cũ, 180m2 nhà cấp 4 tạo thành 8 gian phòng (xây dựng ngay sau khi họ kết hôn) để cho thuê trọ, cùng gần 60m2 nhà mái che để phương tiện cho khách.

Từ năm 2002 đến 2006, đôi vợ chồng này tiếp tục tôn tạo mặt bằng và xây dựng ngôi nhà 3 tầng (bao gồm: 18 phòng nghỉ khép kín và một cầu thang ở giữa lô nhà, tổng diện tích mặt sàn là 420m2). Đầu năm 2007, ông Hưng đưa đơn đến Toà yêu cầu xử ly hôn. Lúc này, bà Mai mới biết mình bị chồng lừa và cơ quan quản lý Nhà nước sơ hở, nên toàn bộ hồ sơ về cấp QSDĐ mang tên một mình ông Hưng. Bà Mai khiếu nại đến UBND TX Cẩm Phả, và kết quả cuối cùng, Chủ tịch Đỗ Minh Tuấn đã ban hành Quyết định thu hồi và huỷ bỏ GCNQSDĐ mang tên một mình người chồng và cấp mới GCNQSDĐ mang tên cả hai vợ chồng. Như vậy, toàn bộ chứng cứ và chứng thư pháp lý đã xác lập. Tài sản của ông Hưng, bà Mai hiện có tại tổ 48, phường Cẩm Đông là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng họ trong hôn nhân.

Vì không thoả thuận được việc chia tài sản, nên theo yêu cầu của bà Mai, TAND TX Cẩm Phả phải tiến hành định giá. Cả 3 lần định giá đều không đạt yêu cầu, trong đó có 2 lần (là ngày 18-10-2007 và ngày 23-4-2008), Thẩm phán Nguyễn Quang Hanh tiến hành. Trong lần thứ 3, trước khi xét xử sơ thẩm 5 ngày, Thẩm phán đã ép bị đơn phải chấp nhận thành viên HĐĐG mà lẽ ra phải bị thay đổi bởi lần định giá trước đã sai, phải định giá lại. Khi tiến hành định giá, Thẩm phán Hanh đã không định hướng nội dung tài sản cần định giá, mặc cho một thành viên Hội đồng áp đặt giá (theo QĐ số 4005/ 2004/... của tỉnh) là giá quy định cách thời điểm định giá 4 năm, không còn phù hợp với thực tế khách quan và không đảm bảo nguyên tắc (theo Điều 2 - Nghị định số 26/2005/... của Chính phủ) là “phù hợp với giá thị trường tại thời điểm và nơi có tài sản”. Làm điều này, khi xét xử, Toà quyết định “chia cho ông Hưng được hưởng toàn bộ khu nhà cấp 4”, tính ra chỉ có trên 76 triệu đồng, nhưng thực tế với giá hiện hành, phải ít nhất gấp 5 lần số này. Bà Mai “về hình thức” được hưởng 1/2 giá trị (khoảng trên 38 triệu đồng, bằng tiền) thì thực tế chỉ có thể xây được khoảng 20m2 nhà cùng loại, vào thời điểm này. Đây là một bất công lớn mà Thẩm phán thụ lý vụ án đã gây ra cho bị đơn, từ việc cố ý làm sai luật là không đảm bảo các nguyên tắc về ĐGTS!

Liên quan đến việc này, còn có việc định giá đất. Một thực tế là khi còn một thửa đất, thì áp dụng một giá, nhưng khi đã chia thành 2 thửa, thì tuỳ vị trí, lợi thế mà giá đất có sự khác nhau. Yêu cầu định giá 2 phần đất (một nửa phía trước tiếp giáp mặt phố chính và một nửa phía sau giáp biển) của bị đơn là hoàn toàn có cơ sở theo nguyên tắc quy định tại Nghị định số 181... về định giá đất, nhưng Thẩm phán vẫn không cho tiến hành, mà chỉ thông qua ý kiến nêu của một thành viên HĐĐG, ấn định giá chung 2.000.000đ/m2 cho toàn bộ thửa đất 918m2. Việc này cũng không đảm bảo nguyên tắc chung về định giá quy định tại NĐ số 26/2005..., vì thực tế tại đây, khi chia thửa đất cho 2 bên đương sự thành 2 thửa không theo cách tách dọc thửa đất mà buộc phải cắt ngang (vì còn liên quan đến các công trình kiến trúc khác), thì rõ ràng, phía sau giáp biển chỉ đạt giá thị trường không đến 2.000.000đ/m2. Còn phía trước tiếp giáp phố chính hiện tại không dưới 4.000.000đ/m2. Cố ý không làm đúng quy định của luật, Thẩm phán Hanh khi quyết định “chia cho ông Hưng trị giá tiền đất là 1.318.000.000đ (bằng 659m2), bà Mai nhận QSDĐ là 518.000.000đ (bằng 259m2). Riêng việc chia đất cho ông Hưng (theo bản án) chỉ tạm tính với giá 4.000.000đ/m2 x 500m2 (đất mặt đường), ông Hưng đã có giá trị 2 tỷ đồng. Bên cạnh đó, ngoài trị giá 77,5m2 đất được chia làm ngõ đi, số còn lại phía sau giáp biển là 181,5m2, bà Mai khó đạt trị giá 518.000.000 đồng. Như vậy, về thực chất giá trị đất, ông Hưng hưởng gấp 4 lần bà Mai.

Điều 95 (Luật Hôn nhân và Gia đình) quy định nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn, là “Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi” (đây là nguyên tắc số 1, trong khoản 2 của điều luật này), sau đó, mới đến nguyên tắc “có xem xét hoàn cảnh mỗi bên, tình trạng tài sản và công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản (chung)”. Thẩm phán Nguyễn Quang Hanh đã tự ý định phủ định kết quả giải quyết khiếu nại của UBND TX Cẩm Phả, bằng việc không đưa vào hồ sơ QĐ số 314... của UBND TX Cẩm Phả về việc thu hồi và huỷ bỏ GCNQSDĐ số H65, và bản sao GCNQSDĐ số 1619... mang tên ông Hưng, bà Mai; đến chỗ cố ý coi Công văn số 909.. của UBND TX Cẩm Phả (đã không còn giá trị pháp lý vì bị QĐ số 314... phủ định) làm cơ sở để xác định “công sức đóng góp của ông Hưng nhiều hơn” (bằng giá trị 400m2 đất phía trước tiếp giáp mặt đường) rồi chia cho ông Hưng thành giá trị 659m2 đất. Với cách “vận dụng” này, Thẩm phán đã lấy nguyên tắc thứ 4 (xem xét công sức đóng góp) làm thay đổi hoàn toàn nguyên tắc thứ nhất (chia đôi) là trái luật. Đấy là chưa kể đến sự thiếu công bằng khi xét xử là giá trị tài sản của bà Mai buổi đầu hợp nhất tài sản cũng bằng 2/3 diện tích đất ông Hưng đưa vào sáp nhập tài sản. Ngoài ra, căn cứ điểm c, khoản 2, điều luật, quy định về việc “bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập”, thì Toà hoàn toàn có thể chia được cho bà Mai nửa phần đất phía trước về phía nam, để bà Mai tiếp tục kinh doanh ổn định đời sống. Ông Hưng vẫn có nửa phần đất phía trước về phía bắc (ngang bằng phần đất chia cho bà Mai) và khoảng 360m2 về phía sau giáp biển. Toà đã không những không ưu tiên phụ nữ mà còn đẩy bà Mai đến chỗ khó có thể phục hồi được việc kinh doanh (trong khi chưa có nghề khác để kiếm sống), vì phải nhận nhà và đất phía sau, lối đi nhỏ, lại phải trả chênh lệch tài sản cho ông Hưng gần 255.000.000đ, vì cách tính toán và cách chia quá bất công như đã nêu.

Vì sao Thẩm phán Nguyễn Quang Hanh và người duyệt án là lãnh đạo TAND TX Cẩm Phả cố ý “lách” luật đến mức cố ý làm trái luật để làm lợi giúp nguyên đơn (một người mà ngay trong đời sống vợ chồng luôn toan tính và có dấu hiệu lừa đảo; đối với cơ quan Nhà nước thì thiếu trung thực), xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn (người phụ nữ khi mà xảy ra đổ vỡ phải gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất...). Một câu hỏi được đặt ra là lương tâm và trách nhiệm những người “cầm cân, nẩy mực” ở đâu?

Cùng chuyên mục