Ông Trương Văn Bình (dân tộc Sán Dìu, trú tại tổ 11b, khu 2a, phường Hà Phong, TP Hạ Long) là người gắn bó lâu năm với những cánh rừng. Từ năm 1990, ông là Tổ trưởng Sơn Tràng khai thác gỗ cho Lâm trường Hồng Gai. Sau khi Lâm trường ngừng khai thác gỗ, năm 1998 ông ký hợp đồng với Lâm trường nhận trồng, bảo vệ, tu bổ rừng. Sau gần 10 năm gắn bó với rừng, ông Bình đang có nguy cơ trắng tay khi UBND TX Cẩm Phả tiến hành giải phóng mặt bằng khu rừng để phục vụ triển khai Dự án Nhà máy Xi măng Cẩm Phả.
Để triển khai Dự án Nhà máy Xi Măng Cẩm Phả, cánh rừng của ông Bình giờ đã bị giải phóng
mặt bằng.
Ngày 1-1-1998, ông Bình và Lâm trường Hòn Gai (nay là Ban Quản lý rừng đặc dụng và cảnh quan môi trường TP Hạ Long- BQL RĐD&CQMTTPHL) ký Hợp đồng sản xuất số 07/HĐ với 2 nội dung: Lâm trường giao cho ông Bình tổ chức quản lý, bảo vệ, tu bổ phục hồi rừng tự nhiên; trồng dặm hoặc trồng lại những vị trí đất trống, đồi trọc theo vốn tự có tại khu rừng C2 thuộc địa phận Lâm trường quản lý. Về ranh giới trong hợp đồng không nêu cụ thể mà chỉ ghi là khoảnh 25, từ đường phân thuỷ Cầu Ván đến cửa rừng C2 và diện tích cũng không được thể hiện trong hợp đồng (sau này các cơ quan chức năng tính là 3,6 ha). Từ khi nhận giao rừng đến nay, ông Bình luôn thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng là: Không tự động khai thác, phát nương làm rẫy; bảo vệ rừng phòng chống khai thác trái phép; không đòi hỏi tiền lương và các chế độ khác… Theo ông Bình trong hợp đồng ghi rõ là rừng tự nhiên nghèo kiệt. Sau gần 10 năm hai sương một nắng, ông Bình và gia đình đã biến đất trống, đồi trọc được giao thành cánh rừng có trữ lượng gỗ cao. Bà Nguyễn Thị Sâm, Phó Giám đốc BQL RĐD&CQMTTPHL cho rằng: Từ rừng nghèo kiệt mà trồng trọt và chăm sóc được thành rừng có trữ lượng 126m3/ha như ông Bình đã làm thì “quá khiếp”. Còn ông Chủ tịch UBND phường Quang Hanh, TX Cẩm Phả (phần lớn diện tích trong số 3,6 ha nói trên thuộc địa bàn phường Quang Hanh) thì cho rằng: “Nếu diện tích rừng trên mà không giao cho ông Trương Văn Bình quản lý bảo vệ thì đến nay không còn rừng”. Ông Tăng Xuân Loan, Quyền Giám đốc BQL RĐD&CQMTTPHL cho rằng: Thực tế đất rừng lân cận không do ông Bình quản lý bảo vệ thì hiện nay chỉ còn đồi trọc.
Thế nhưng, từ cuối năm 2005 đến nay, ông Bình luôn mất ăn mất ngủ khi UBND TX Cẩm Phả tiến hành giải phóng mặt bằng để triển khai Dự án Nhà máy Xi măng Cẩm Phả mà không đền bù giá trị lâm sản trên 3,6 ha rừng nói trên cho ông.
Trong văn bản số 245/TB-UBND ngày 17-8-2006, UBND TX Cẩm Phả cho rằng: “Trong 3,6 ha đã xác định ở trên, chỉ có 0,02 ha diện tích rừng tự nhiên nằm trong ranh giới quản lý của BQL RĐD&CQMT TP HL (xác định trên cơ sở bản đồ hoạch định ranh giới Lâm trường Hòn Gai đã được UBND tỉnh phê duyệt ngày 20-9-1995 tỷ lệ 1/25.000 và kiểm tra thực tế); còn 3,58 ha Nhà nước chưa giao cho ai quản lý, chăm sóc, tu bổ”. (Trong các văn bản sau này, UBND TX Cẩm Phả ghi là 0,2 ha thuộc ranh giới của BQL RĐD&CQMTTPHL và 3,4 ha thuộc sự quản lý của TX Cẩm Phả). Ngay sau đó, để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho ông Bình, ngày 28-8-2006, BQL RĐD&CQMTTPHL có công văn gửi UBND TX Cẩm Phả khẳng định: Khoảnh 25, tiểu khu 100 (tức 3,6 ha nói trên-PV), BQL RĐD&CQMTTPHL vẫn giao khoán cho ông Bình tu bổ, trồng dặm và bảo vệ theo chính sách của Nhà nước, cho đến nay không xảy ra tranh chấp; vì thế BQL RĐD&CQMTTPHL đề nghị UBND TX Cẩm Phả đền bù thoả đáng cho ông Bình.
Thế nhưng, UBND TX Cẩm Phả sau đó vẫn bảo vệ quan điểm của mình là không đền bù. Ông Bình không đồng ý và tiếp tục khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh. Nhưng đơn của ông Bình không được chấp nhận vì UBND TX Cẩm Phả chưa chịu ra quyết định giải quyết khiếu nại nên ông Bình không đủ cơ sở để khiếu tiếp. Qua nhiều lần đi lại và mãi đến cuối tháng 7-2007, UBND TX Cẩm Phả mới chịu ra quyết định giải quyết khiếu nại của ông Bình. Trong Quyết định giải quyết khiếu nại số 1187/QĐ-UB ngày 26-7-2007, UBND TX Cẩm Phả vẫn bác đơn của ông Bình với lý do trên 3,4 ha đất rừng tự nhiên là đất công do TX Cẩm Phả quản lý và chưa giao cho ai sử dụng, còn gần 0,2 ha nằm trong ranh giới ông Bình nhận khoán của Lâm trường Hòn Gai thì BQL Dự án Xi măng Cẩm Phả đề nghị chưa bồi thường.
Ông Trương Văn Bình bên cánh rừng tại khoảnh 25, tiểu khu 104.
Nguyên nhân ông Bình không được đền bù dẫn đến việc khiếu nại kéo dài và vượt cấp như nêu trên là do UBND TX Cẩm Phả không chịu lắng nghe ý kiến của BQL RĐD&CQMTTPHL; khi giải quyết công việc này chưa thấu tình đạt lý và chậm ra quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại tố cáo.
Công văn ngày 28-8-2006 của BQL RĐD&CQMTTPHL gửi UBND TX Cẩm Phả đã giải thích rất rõ: “Khi Nhà nước có Quyết định 364 (năm 1994) phân định lại địa giới hành chính các huyện thị thì một phần đất của khoảnh 25, tiểu khu 100 được cắt về TX Cẩm Phả (năm 2000 Lâm trường Hòn Gai biết thông tin này). Nhưng từ đó đến nay, Ban chưa thấy đơn vị lâm nghiệp hoặc đại diện địa phương nào của TX Cẩm Phả nhận bàn giao diện tích đất trên. Vì vậy, Ban vẫn phải thực hiện trách nhiệm bảo tồn vốn rừng, phát triển rừng theo quy định của Nhà nước”.
Tìm hiểu thêm về việc này, chúng tôi được bà Nguyễn Thị Sâm, Phó Giám đốc BQL RĐD&CQMTTPHL cho biết: Năm 1985, UBND tỉnh ra quyết định thành lập Lâm trường Hồng Gai. Quyết định nêu rõ chuyển giao toàn bộ cơ sở vật chất, cán bộ, rừng và đất rừng của Đội Hà Tu (thuộc Lâm trường Cẩm Phả) về Lâm trường Hòn Gai. Toàn bộ diện tích 3,6 ha rừng của ông Bình được Lâm trường Hòn Gai giao sau này nằm trong ranh giới rừng do Đội Hà Tu quản lý. Đến năm 1995, Sở NN&PTNT chỉ đạo hoạch định lại rừng và đất rừng theo các tiểu khu (trước đây, Lâm trường Cẩm Phả bàn giao cho Lâm trường Hòn Gai chỉ dựa theo mốc giới tự nhiên không theo các tiểu khu). Theo đó, một phần của khoảnh 25, tiểu khu 104 (thuộc địa bàn phường Quang Hanh) lại do TX Cẩm Phả quản lý (chính là phần diện tích hơn 3,4 ha mà Dự án Nhà máy Xi măng Cẩm Phả được sử dụng). Đến năm 1998, khi ký hợp đồng sản xuất với ông Bình, Lâm trường Hòn Gai đã quên mất chi tiết trên nên giao lấn sang diện tích rừng do TX Cẩm Phả quản lý (sau này xác định là hơn 3,4 ha). Nhưng BQL RĐD&CQMTTPHL lại cho rằng từ khi có sự thay đổi về địa giới đến nay vẫn chưa thấy TX Cẩm Phả đến nhận bàn giao. Điều này, BQL RĐD&CQMTTPHL đã nhấn mạnh trong công văn gửi UBND TX Cẩm Phả và khẳng định thêm: “Rừng và đất rừng là tài sản Nhà nước, việc bàn giao cũng phải đúng theo quy định Nhà nước”.
Trong khi trao đổi với chúng tôi, bà Sâm cũng thừa nhận sai sót nữa của Lâm trường Hòn Gai trước đây trong việc giao rừng cho ông Trương Văn Bình. Cụ thể là Hợp đồng sản xuất số 07 ngày 1-1-1998 do Lâm trường ký với ông Trương Văn Bình có tiêu đề là giao khâu quản lý, bảo vệ tu bổ nhưng nội dung hợp đồng như nói ở phần trên lại giao các công việc như với hồ sơ giao khoán đất rừng và bảo vệ rừng theo Nghị định số 01/CP ngày 4-1-1995 của Chính phủ “Về việc giao đất, cho thuê đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp Nhà nước”. Nếu chỉ giao khâu quản lý, bảo vệ tu bổ thì ông Bình chỉ được hưởng 10% giá trị cây rừng tự nhiên theo Quyết định 4466/QĐ-UB ngày 1-12-2005 của UBND tỉnh về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định ban hành kèm theo Quyết định số 1122/QĐ-UB ngày 20-4-2005 của UBND tỉnh về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh. Nhưng như đã nói ở trên là nội dung hợp đồng lại giao các công việc theo Nghị định 01/CP và giao trong nhiều năm chứ không phải chỉ giao từng năm theo quy định (Hợp đồng 07 nói trên giao cho ông Bình từ 1-1-1998 đến hết năm 2000 và được gia hạn đến hết năm 2006).
Là người gắn bó với rừng, ông Trương Văn Bình rất nhớ và luôn làm theo lời Bác Hồ dạy: “Rừng là vàng, nếu mình biết xây dựng và bảo vệ thì rừng rất quý”. Ông Bình đã có công trong việc trồng, chăm sóc, bảo vệ cho Nhà nước một cánh rừng có trữ lượng gỗ rất cao, vì thế lẽ nào khi thu hồi đất rừng, chính quyền lại không đền bù hoặc đền bù không thoả đáng với công sức ông Bình và gia đình bao năm nay bỏ ra?