Tháng 1-1977, ông Nguyễn Quốc Toản (chồng bà Nguyễn Thị Thành) trú tại tổ 87, phường Cẩm Trung (Cẩm Phả) có đơn xin đất làm nhà và được HTX nông nghiệp Tam Hợp cấp 300m2 đất tại Khe Cát, ông Toản đã nộp cho HTX 84 đồng.
Song do khu đất này thuộc vùng qui hoạch nên UBND thị xã đã trưng dụng để cấp cho HTX xây dựng và giải quyết cấp bù cho ông Toản ở vị trí khác. Năm 1990, ông Toản tiếp tục có đơn xin được cấp đất và ngày 5-12-1990, UBND TX Cẩm Phả đã có thông báo số 165/TB-UB đồng ý cấp cho ông Toản một mảnh đất để làm nhà ở, diện tích 64m2 tại tổ 70, phường Cẩm Trung, song ông Toản không nhận. Sau đó đến ngày 21-9-1992, ông Toản lại đồng ý nhận ô đất trên. Ngày 23-9-1992, đại diện các cơ quan chức năng TX Cẩm Phả, UBND phường Cẩm Trung và ông Toản đã ký biên bản bàn giao đất tại hiện trường. Diện tích giao nhận là 64m2, trong biên bản giao đất ghi rõ: “Nếu chủ hộ không sử dụng đất được bàn giao thì phải trả lại biên bản này cho cơ quan giao đất để cấp cho nhu cầu khác”. Mặc dù đã ký vào biên bản, song ông Toản không nhận đất, không quản lý sử dụng và cũng không trả lại biên bản cho phòng xây dựng như đã cam kết. (ô đất này sau đó đã bị ông Nhâm lấn chiếm và chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Hồng vào năm 1993, gia đình bà Hồng đã xây nhà mái bằng và nộp thuế sử dụng thửa đất này).
Năm 2004, bà Thành lại có đơn khiếu nại đòi UBND thị xã Cẩm Phả phải cấp đủ 300m2 đất tại tổ 70, phường Cẩm Trung, nhưng thửa đất đó hiện gia đình bà Hồng đã quản lý và sử dụng nên không thể thu hồi để trả lại cho bà Thành được. Vì vậy, ngày 17-5-2006, UBND thị xã Cẩm Phả đã có thông báo số 145/TB-UBND đồng ý cấp cho gia đình bà Thành 180m2 đất tại tổ 51, khu 6, phường Cẩm Trung, bà Thành không phải nộp tiền sử dụng đất. Do bà Thành không đồng ý với cách giải quyết trên nên ngày 12-10-2006, UBND thị xã đã có phương án cấp cho gia đình bà 300m2 đất tại khu dự án của Công ty thương mại Bái Tử Long nhưng bà Thành vẫn kiên quyết không đồng ý, bà Thành yêu cầu đòi lại thửa đất tại tổ 70, phường Cẩm Trung.
Tìm hiểu quá trình các cơ quan chức năng xử lý vụ khiếu kiện đòi đất của bà Nguyễn Thị Thành, chúng tôi nhận thấy UBND thị xã Cẩm Phả đã giải quyết cho gia đình bà Thành thực sự hợp tình, hợp lý. Xét về lý, khi ông Nguyễn Quốc Toản làm đơn xin HTX Tam Hợp cấp đất là vào năm 1977, theo điểm 6 mục 1 Công văn số 647CV/ĐC ngày 31/5/1995 của Tổng cục Địa chính về việc hướng dẫn một số điểm thực hiện Nghị định 60/CP, qui định những giấy tờ hợp lệ là đất ở gồm: “Giấy tờ của HTX sản xuất nông nghiệp cấp đất cho gia đình xã viên của HTX từ trước ngày 28/6 /1971 trở về trước”. Đối chiếu với trường hợp ông Toản, việc HTX Tam Hợp cấp đất cho ông và thu tiền đất của ông tại thời điểm năm 1977 không được coi hợp lệ. Vì thế cái lý mà gia đình ông dựa vào việc HTX nông nghiệp Tam Hợp đã thu tiền đất để làm cơ sở đòi UBND thị xã Cẩm Phả phải cấp trả đủ 300m2 đất là không đủ điều kiện pháp lý. Xem xét kỹ các tài liệu mà gia đình bà cung cấp, chúng tôi nhận thấy HTX nông nghiệp Tam Hợp mới chỉ hứa và đề nghị UBND thị xã cấp đất cho gia đình bà mà chưa có một giấy chứng nhận hay quyết định cấp đất nào dành cho gia đình bà. Việc HTX Tam Hợp thu tiền đất của gia đình bà là không hợp lệ so với qui định tại công văn số 647CV/ĐC vì sau năm 1971 giấy tờ cấp đất của HTX không còn hiệu lực. Tuy nhiên UBND thị xã Cẩm Phả xét điều kiện hoàn cảnh gia đình ông bà có nhu cầu về nhà ở và đã làm đơn, nộp lệ phí đất cho HTX, bản thân gia đình ông bà tại thời điểm đó cũng chưa được cấp đất lần nào nên giải quyết cấp cho gia đình ông 64m2 đất tại tổ 70, phường Cẩm Trung là đã thấu tình đạt lý. Nhưng ông Toản mặc dù đã ký vào biên bản nhận bàn giao đất nhưng vẫn không nhận đất với lý do không đủ 300m2 đất như ông yêu cầu và không thông báo lại cho cơ quan chức năng biết như đã cam kết.Vậy đứng về lý việc bà Thành đòi lại ô đất mà hiện nay bà Phạm Thị Hồng đang ở là không có căn cứ vì tuy ký vào biên bản đồng ý nhận đất nhưng trên thực tế là ông Toản đã không chấp nhận và vì thế UBND thị xã Cẩm Phả chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ô đất đó cho ông, gia đình ông cũng đã không hề quản lý, sử dụng và làm trách nhiệm của người sử dụng đất với nhà nước. Trong khi đó bà Phạm Thị Hồng là người đã sử dụng ô đất đó từ năm 1993, đã làm đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với nhà nước, hiện gia đình bà đã xây nhà khá kiên cố trên thửa đất đó. Theo qui định tại khoản 4, điều 50, Luật Đất đai năm 2003 thì bà Hồng là người có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xem xét toàn bộ quá trình xử lý vụ việc của gia đình bà Nguyễn Thị Thành, chúng tôi thấy UBND thị xã Cẩm Phả,UBND tỉnh và các cơ quan chức năng đã cố gắng giải quyết theo hướng có lợi cho gia đình bà. Đơn cử khi ô đất mà HTX Tam Hợp dự định cấp cho gia đình bà nằm trong vùng qui hoạch, UBND thị xã Cẩm Phả đã giải quyết cấp bù cho gia đình bà ở vị trí khác. UBND thị xã Cẩm Phả đã đưa ra các phương án có lợi cho bà như: cấp cho gia đình bà 180m2 đất tại tổ 51, khu 6, phường Cẩm Trung, sau khi bà Thành không đồng ý, UBND thị xã lại tính phương án khác là cấp cho bà 3 ô đất = (297m2) tại khu dự án của Công ty thương mại Bái Tử Long và gia đình bà không phảI trả tiền sử dụng đất(giá đất tại khu vực này vào thời điểm năm 2006 là từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng/m2; ở phường Cẩm Trung là 1triệu đồng/m2, trong khi giá đất tại khu vực Khe Cát mà HTX Tam Hợp dự định cấp cho gia đình bà có giá 1 triệu đồng/m2). Như vậy, có thể khẳng định UBND thị xã Cẩm Phả đã giải quyết vụ việc của bà Thành có tình có lý. Nhưng đáng tiếc là bà Thành đã không nhận thức được vấn đề vẫn tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên tỉnh, lên bộ…
Sau khi thẩm tra xác minh lại vụ việc của bà Thành, ngày 14-12-2006, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có Quyết định số 4012/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại của bà Thành đòi 300m2 đất tại khu vực phường Cẩm Trung; đồng ý với quyết định số 936/QĐ/UB ngày 1-8-2006 của UBND thị xã Cẩm Phả cấp cho bà Thành 297m2 đất tại dự án Công ty thương mại Bái Tử Long. Gần đây vào ngày 15-6-2009, sau khi đã rà soát, thẩm tra xác minh lại vụ việc của Thành một lần nữa đối thoại trực tiếp với bà Thành, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh đã quyết định: nếu bà Nguyễn Thị Thành không đồng ý với các phương án mà UBND thị xã Cẩm Phả, UBND tỉnh đã quyết thì sẽ giữ nguyên quyết định số 165/TB-UB ngày 15-12-1990chỉ cấp 64m2 đất cho gia đình bà Thành và kiên quyết không xử lý lại trường hợp của bà Thành nữa.
Qua vụ việc của bà Nguyễn Thị Thành, chúng tôi thấy lẽ ra sẽ không xảy ra khiếu kiện kéo dài nếu như ngay từ đầu các cơ quan chức năng của thị xã Cẩm Phả không buông lỏng công tác quản lý, giám sát sử dụng đất đai. Mặt khác trong quá trình giải quyết đơn thư khiếu kiện của bà Thành các cơ quan chức năng của thị xã Cẩm Phả đã quá nặng tình và thiếu quyết đoán, dẫn đến đi từ nhân nhượng này đến nhân nhượng khác. Lẽ ra nếu thấy việc giải quyết theo quyết định 165 TB/UB là đúng thì dù gia đình bà Thành có chấp nhận hay không cũng không thể giải quyết theo kiểu thoả hiệp từ phương án này đến phương án khác. Dẫn đến việc người dân lấn lướt theo kiểu “ được voi đòi tiên”, hậu quả là các cơ quan chức năng phải mất rất nhiều thời gian để xử lý một vụ việc.