Bài 1: Vẫn còn rất mơ hồ

Chặng đường gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) không còn xa. Yêu cầu đặt ra không chỉ đối với các doanh nghiệp mà người nông dân cũng buộc phải thực hiện các “luật chơi” chung của thị trường quốc tế.

h

Hoa Ly cao cấp trồng trong nhà lưới ở khu Đồng Chè, thị trấn Trới (Hoành Bồ, Quảng Ninh).

Theo đánh giá của các chuyên gia, việc vào WTO không đơn giản là vào sân chơi bình đẳng mà còn là vào cuộc cạnh tranh quyết liệt ở đẳng cấp quốc tế, cạnh tranh sòng phẳng. Đã “ra khơi” thì các bên đều có lợi. Mở rộng thị trường sẽ có nhiều ngành phát triển nhưng những ngành quy mô còn nhỏ bé sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi nguyên tắc chung của thị trường là “cá lớn nuốt cá bé”. Vì vậy khi gia nhập WTO nông nghiệp chắc chắn sẽ là ngành gặp nhiều khó khăn nhất. Bởi ngành nông nghiệp tỉnh ta nói riêng và cả nước nói chung vẫn đang ở quy mô nhỏ. Sản xuất vẫn theo thói quen tiểu nông, chưa đồng đều về phẩm cấp, yếu kém về công nghệ sau thu hoạch. Quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá chậm chạp nên tiến độ đưa khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp cũng chậm. Vì thế năng suất thấp, giá thành cao, làm cho sức cạnh tranh của nông sản kém, không gắn sản xuất với thị trường, cho nên vẫn có tình trạng cung thừa hoặc bế tắc đầu ra. Mặc dù không phải là tỉnh nông nghiệp nhưng với hơn 50% dân số hoạt động ở khu vực nông nghiệp nông thôn, Quảng Ninh đã chuẩn bị gì cho nông nghiệp khi vào WTO? Câu hỏi này lẽ ra phải được trả lời từ cách đây 5 năm nhưng đến nay dường như tất cả vẫn còn rất mơ hồ, ngay cả cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương và người nông dân cũng chưa biết phải làm thế nào để hoà mình vào dòng chảy WTO.

Mặc dù sản xuất nông nghiệp nông thôn ở tỉnh ta những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hoá, nhưng nhìn chung sản xuất vẫn còn mang nặng tính thuần nông, tập quán canh tác lạc hậu, tư tưởng ỉ lại trông chờ vào sự trợ cấp của Nhà nước còn quá nặng nề, tính chủ động trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông nghiệp nông thôn chưa cao. Theo phân tích của các chuyên gia thì khi gia nhập WTO một trong những lợi thế cần phải khai thác để “chống đỡ” lại “cơn bão” hàng hoá nông sản, thực phẩm của nước ngoài tràn ngập chiếm lĩnh thị trường do dỡ bỏ các hàng rào thuế quan chính là phải tích cực chuyển đổi cơ cấu giống, mùa vụ để tạo bước đột phá về năng suất và sản lượng, giảm chi phí trong sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ này thì thấy không riêng gì ngành nông nghiệp mà ngay các địa phương cũng rất lúng túng, chậm chạp trong việc chuyển đổi, ứng dụng công nghệ sinh học để tạo bước đột phá về năng suất, sản lượng. Mặc dù được đánh giá là tỉnh khá thành công trong việc nghiên cứu và du nhập các giống lúa mới của Trung Quốc, Quảng Ninh cũng đã sản xuất được 5 giống lúa được công nhận là bộ giống quốc gia, song việc nhân ra diện rộng lại rất chậm. Tiến trình dồn điền, đổi thửa quy hoạch thành vùng sản xuất liền vùng liền thửa tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung thực hiện quá chậm. Đến nay mới chỉ có huyện Đông Triều, Yên Hưng cơ bản hoàn thành dồn điền đổi thửa nhưng việc thay đổi cơ cấu cây trồng, đưa loại cây mang tính chất hàng hoá có thể xuất khẩu vẫn chưa thực hiện được. Diện tích trồng cây vụ đông mới chỉ chiếm 8% tổng diện tích gieo trồng, bố trí cơ cấu cây trồng manh mún, quy mô nhỏ hẹp mang nặng tính tự phát. Cơ quan chuyên môn thì lúng túng trong việc tìm, lựa chọn bộ giống chủ lực để đưa vào sản xuất phù hợp với từng vùng, các địa phương thì lúng túng trong việc lựa chọn thế mạnh để đầu tư. Vì vậy nông dân mạnh ai nấy làm. Nhiều nơi nông dân chưa có cơ hội được tiếp nhận những thông tin khoa học kỹ thuật, phương thức canh tác mới hiệu quả. Công tác khuyến nông yếu cả về lực lượng và chuyên môn nghiệp vụ. Trong 157 cán bộ khuyến nông cơ sở- những người trực tiếp “cầm tay chỉ việc” chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân chỉ có 18 người có trình độ đại học, 68 người có trình độ trung cấp còn lại là những nông dân có kinh nghiệm sản xuất tham gia làm công tác khuyến nông. Từ trước đến nay “khuyến nông công nghệ cao” chưa được chú trọng, mới chỉ dừng lại ở việc tư vấn cho các trang trại, gia trại.

Bên cạnh triển vọng về tạo thêm việc và tăng cường lưu thông hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho nông dân khi gia nhập WTO thì nguy cơ của việc chèn ép, cạnh tranh giữa những hộ nông dân nhỏ lẻ, thiếu hợp tác, kém vị thế đàm phán với những hệ thống sản xuất kinh doanh hiện đại được tổ chức tốt và có khả năng cạnh tranh mạnh sẽ gay gắt. Vì vậy kinh nghiệm cho thấy là cần đẩy nhanh sản xuất tập trung, tạo cho nông dân thói quen làm kinh tế trang trại. Từ đó tổ chức thành các hiệp hội, ngành nghề để tạo sự liên kết trong cạnh tranh buôn bán sản phẩm nông sản, hình thành nên những HTX nông nghiệp đa năng, những trang trại rộng lớn sẵn sàng tham gia xuất khẩu. Trên thực tế việc phát triển kinh tế trang trại hiện đang gặp rất nhiều khó khăn. Theo thống kê của Sở NN&PTNT toàn tỉnh có 1.937 trang trại các loại, trong đó tập trung chủ yếu vào phát triển một số loại hình trang trại như: nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây lâu năm, lâm nghiệp... Tổng diện tích đất đai đã nhận để sản xuất kinh doanh là 20.063 ha, vốn đầu tư phát triển 240,4 tỷ đồng. Hiện nay các trang trại đã đáp ứng đủ tiêu chí xác định trang trại theo các quy định của Bộ NN&PTNT, Tổng cục Thống kê đều chưa được cấp giấy chứng nhận trang trại, tất cả vẫn chỉ dừng lại ở việc điều tra đánh giá thống kê. Kinh tế trang trại tuy có bước phát triển song chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh hiện có, các mối quan hệ giữa sản xuất và phục vụ sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm phát triển không đồng bộ. Phần lớn các chủ trang trại là nông dân ít hiểu biết về thị trường, khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý nên gặp nhiều khó khăn trong việc xác định phương hướng sản xuất kinh doanh. Sản phẩm làm ra năng suất, chất lượng thấp, sức cạnh tranh yếu, hiệu quả đạt được không cao. Phân vùng sản xuất, bố trí cơ cấu sử dụng đất đai, cây trồng, vật nuôi chưa hợp lý, đồng bộ, trọng điểm phù hợp với tiến trình phát triển chung của từng vùng. Vì quy mô trang trại của tỉnh ta nhỏ, phân tán, chưa hình thành được vùng sản xuất hàng hoá tập trung, giao thông đi lại khó khăn nên việc đầu tư cho các khâu chế biến, thu mua sản phẩm của các trang trại khó khăn. Giá nông sản do các trang trại sản xuất ra thường đắt hơn hàng của nước ngoài do phải gánh nhiều chi phí, lệ phí, tiền công gián tiếp. Khi mở cửa mậu dịch tự do đầu tư nước ngoài gia tăng trong lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp, các sản phẩm nông sản được dỡ bỏ hàng rào thuế quan sẽ tràn ngập thị trường với giá thành rẻ, mẫu mã đẹp, chất lượng đảm bảo sẽ trở thành thách thức lớn đối với các sản phẩm nông sản do các trang trại sản xuất ra. Theo tìm hiểu của chúng tôi phần lớn các chủ trang trại hiện nay chưa ý thức được việc gia nhập WTO sẽ mang lại thời cơ và thách thức gì, những “luật chơi” chung trên thị trường rộng lớn này là gì?

(Còn nữa)

Cùng chuyên mục