Bài học không mới

Vụ mùa năm 2006, huyện Đông Triều có 2.700 ha lúa mùa bị nhiễm nặng sâu đục thân với mật độ 30% trở lên. Trong đó có tới 688,8 ha lúa bị mất trắng, chiếm 12,4% diện tích lúa cấy vụ mùa. Do vậy, năng suất bình quân chỉ đạt 36,4 tạ/ha, giảm 14 tạ/ha so với vụ mùa năm 2005. Các xã có diện tích bị thiệt hại nặng nhất là Xuân Sơn, Nguyễn Huệ, Bình Dương, Kim Sơn, Yên Thọ và Đức Chính.

l

 Nông dân xã Hưng Đạo (Đông Triều) phun thuốc trừ sâu cho lúa vụ mùa năm 2006.ảnh: PV

Sự chủ quan trong phòng trừ sâu bệnh.

Vụ mùa năm 2006, Trạm Bảo vệ thực vật huyện Đông Triều đã có dự báo tình hình sâu bệnh xác định: bướm sâu đục thân vũ hoá quả rải rác trên đồng ruộng, không tập trung thành lứa rõ rệt nên rất khó khăn cho việc phun thuốc phòng trừ. Với đặc tính riêng của sâu đục thân là khi nở ra sâu non đã di chuyển ngay theo kẽ bẹ lá xuống gốc để đục vào thân cây lúa. Do vậy, muốn trừ sâu đục thân thì phải phun kép 2 lần. Song ở các xã đã mất trắng với diện tích lớn không thực hiện theo quy trình hướng dẫn, do vậy, hiệu quả phòng trừ sâu đục thân trong vụ mùa rất kém. Bên cạnh đó mặc dù cán bộ kỹ thuật đã hướng dẫn các hộ nông dân ngắt ổ trứng và dảnh lúa héo nhưng cũng rất ít hộ nông dân thực hiện khi UBND huyện có cơ chế hỗ trợ thì chỉ có một số hộ nông dân ở vài xã thực hiện, cho đến khi hết đợt hỗ trợ việc ngắt ổ trứng sâu đục thân trên các dảnh lúa héo cũng dừng lại. Chính sự chủ quan của các hộ nông dân trên diện tích lúa vụ mùa của gia đình trong việc phòng trừ sâu bệnh hại lúa là nguyên nhân cơ bản dẫn đến mất mùa ở Đông Triều.

Mặt khác, sâu đục thân cây lúa trong vụ mùa năm 2006 ở Đông Triều đều được phun thuốc Pegent 800 WG có hoạt chất Fifronyl. Song trong thực tế thì sâu đục thân đã kháng thuốc hoạt chất Fifronyl, do vậy, phun thuốc Regent 800 WG trừ sâu đục thân cây lúa hiệu quả thấp, kể cả việc dùng hỗn hợp thuốc Regent 800 WG với một thuốc có hoạt chất khác cũng đạt hiệu quả không cao. Đến khi phải chuyển sang sử dụng thuốc Padan 95 SP hỗn hợp với Peran 50E nhưng phải phun rất nhiều lần trên 1 diện tích lúa cấy mới đạt được hiệu quả trừ sâu đục thân cây lúa. Khi tính ra được bài thuốc chữa sâu đục thân có hiệu quả thì sâu đục thân đã phát triển mạnh, sâu con từ trứng nở rải rác kéo dài nhiều lứa trên các cánh đồng, người nông dân không mặn mà với cây lúa đang lứa bị sâu đục thân phá hoại trên ruộng đồng.

Bỏ qua quy trình làm đất.

Ngay sau khi thu hoạch lúa vụ xuân năm 2006, việc cày bừa ngả ruộng và tăng cường vệ sinh đồng ruộng phải được đặt ra. Bằng biện pháp bón vôi kết hợp với phân chuồng vừa có lợi ích cải tạo đất vừa tăng khả năng sinh trưởng của cây lúa cấy sau này và năng suất lúa khi thu hoạch. Đồng thời, biện pháp bón vôi cải tạo đất sẽ cắt đứt cầu nối sâu bệnh cho vụ sau trên đồng ruộng. Biện pháp vệ sinh đồng ruộng này đã là kinh nghiệm đúc rút của ngành sản xuất lúa nước của Việt Nam. Song trong thực tế, trên các cánh đồng ở Đông Triều đều rất ít hộ nông dân cày bừa ngả ruộng sau thu hoạch vụ xuân năm 2006. Người sản xuất chủ quan bởi từ nhiều năm trở lại đây Đông Triều luôn được mùa lúa. Diện tích cấy lúa xuân không được cày bừa ngả ruộng, cây lúa le (lúa chết) từ gốc rạ lúa chiêm mọc lên. Những cụm lúa le mọc lên chính là các ổ để sâu đục thân 2 chấm cuối vụ xuân trú ngụ và di chuyển sang phá hoại mạ mùa gieo sớm. Diện tích mạ mùa này khi đưa sang cấy đã dẫn đến nhiễm sâu đục thân với mật độ khá cao, cộng với đất không được tăng độ phì nhiêu đã làm giảm khả năng hấp thụ của đất đã dẫn đến “ngộ độc” gây nghẹt rễ cây lúa trong đất. Khả năng phát triển của cây lúa đã kém cùng với sâu và trứng sâu đục thân lưu trú từ vụ xuân chuyển sang đã dẫn đến diện tích lúa bị nhiễm sâu đục thân với mật độ khá cao, phá hoại cây lúa nhanh, sâu con sinh trưởng và phát triển kéo dài nhiều lứa liên tục phá hoại cây lúa.

Thuốc bảo vệ thực vật chưa quản lý được.

Hiện tại, trên địa bàn huyện Đông Triều có trên 100 điểm kinh doanh, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà chủ yếu là các hộ gia đình đầu tư kinh doanh. Vai trò của HTX dịch vụ nông nghiệp đứng ra thì rất ít. Qua tìm hiểu được biết nguồn thuốc bảo vệ thực vật được cung cấp về Đông Triều bằng khá nhiều nguồn ở Hải Dương, Bắc Ninh và Hải Phòng. Trên 100 hộ kinh thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn thì mới có 17 người được cấp chứng chỉ hành nghề theo quy định. Do vậy, tình trạng thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc, thuốc do Trung Quốc sản xuất, thuốc do các Công ty trong nước sản xuất nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc thuốc giả... vẫn có nhiều cơ hội len lỏi trên thị trường thuốc bảo vệ thực vật. Trong khi đó, nhiệm vụ của Trạm Bảo vệ thực vật Đông Triều không trực tiếp quản lý kinh doanh thuốc mà do Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh trực tiếp quản lý điều hành thì cũng chỉ chiếm được một thị phần rất nhỏ trên địa bàn. Do vậy, người nông dân tự động mua thuốc về phun cho lúa, không theo đúng quy trình hướng dẫn phun từng thời kỳ sinh trưởng của sâu đục thân và cũng chẳng biết được sâu đục thân vụ mùa 2006 đã bị kháng thuốc dẫn đến thuốc trừ sâu phun vừa không có hiệu quả diệt trừ sâu bệnh vừa tốn kém tiền mua thuốc và công phun, không tin tưởng vào dự báo sâu bệnh...

Việc quản lý hoạt động kinh doanh thuốc trong giai đoạn hiện tại vẫn đang là một đòi hỏi cấp bách không chỉ riêng của ngành bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh ta. Chỉ quản lý tốt thì mới có thể đáp ứng được công tác phòng trừ sâu bệnh để giúp cho ngành sản xuất nông – lâm nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và tiếp tục giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với an ninh lương thực. Sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng và có sức cạnh tranh trên thị trường.

Cùng chuyên mục