Trung bình mỗi năm ngân sách tỉnh đầu tư gần 50 tỷ đồng để duy tu bảo dưỡng xây dựng các công trình thủy lợi. Các công trình thủy lợi lớn như Tràng Vinh (Móng Cái), Đầm Hà Động (Đầm Hà), Yên Lập (Yên Hưng), ngoài nguồn vốn đầu tư của Trung ương, Bộ NN&PTNT, tỉnh cũng phải dành vốn tham gia đối ứng xây dựng các tuyến kênh mương. Năm 2006, kế hoạch vốn ngân sách đầu tư cho thủy lợi là 32 tỷ đồng, riêng vốn cho kiên cố hóa kênh mương là 5,8 tỷ đồng.
Qua tìm hiểu của chúng tôi, phần lớn các công trình thủy lợi vừa đưa vào sử dụng đã bị hư hỏng nằm ở khu vực miền Đông, mà nguyên nhân chủ yếu là do khi nhận xây dựng công trình thủy lợi, các đơn vị thi công tự ứng vốn để khảo sát, thiết kế, thi công trong điều kiện máy móc, thiết bị nghèo nàn. Đơn vị tư vấn thiết kế công trình đã không tính đến yếu tố đặc thù địa hình, khí hậu khu vực miền núi.
Các tuyến kênh mương khu vực miền Đông do đặc thù đều đi ven theo sườn núi, tường kênh chịu áp lực nước từ sườn đồi lớn, các tuyến kênh nằm chìm trong đất, nhưng khi thiết kế xây dựng, đơn vị tư vấn thiết kế đã không tính đến yếu tố vừa tưới vừa tiêu phù hợp điều kiện địa hình khu vực miền Đông, nên mỗi khi mưa lũ thường xảy ra đổ vỡ bờ kênh. Như các tuyến kênh mương thuộc hệ thống công trình thủy lợi Tràng Vinh (Móng Cái), theo thiết kế tưới, lưu lượng dòng chảy từ 1- 1,5 m3/s, trong khi đó nếu làm cả chức năng tiêu thì lưu lượng thiết kế phải từ 2- 3 m3/s. Vì vậy khi xảy ra mưa lũ, dòng chảy quá lớn, cộng với nước ép từ bên đồi đã phá vỡ bờ kênh. Tuyến kênh N12A ban đầu không có vốn nên chỉ làm kênh đất, sau này mới tiến hành kiên cố. Khi thiết kế, đơn vị tư vấn đã không tính đến yếu tố kênh nằm sát đường giao thông độ rung lớn, lại chạy qua các khu vực dân cư bờ kênh thấp bằng mặt đất tự nhiên, nên ngay sau khi xây dựng xong, công trình đã bị đổ vỡ nhiều đoạn, phải xây lại. Do làm chắp vá như vậy, nên sau một thời gian đưa vào sử dụng, bờ kênh bị nứt nhiều đoạn, đe dọa nguy cơ mất ổn định của công trình. Tuyến kênh N2 (Hải Hà) do không có vốn, nên làm từng đoạn, chỗ nào xung yếu chủ đầu tư cho làm trước, nhưng không phù hợp với điều kiện địa hình, tường kênh xây thẳng áp vào sườn đồi, không có hệ thống tiêu thoát nước. Năm 2001 làm đến đoạn cắt ngang đường 18A, đoạn kênh này đã bị đổ vỡ 200 m, vừa qua lại tiếp tục bị đổ vỡ 300 m nữa.
Hiện nay, việc xây dựng hệ thống kênh mương cấp 2, 3 giao cho các huyện, thị xã làm chủ đầu tư (duyệt dự toán, kỹ thuật), nhưng do chưa quan tâm đúng mức tới công tác lập dự án và thiết kế, mà thường khoán gọn cho đơn vị tư vấn. Đơn vị tư vấn lại khoán gọn cả công trình cho một cá nhân, trong khicá nhân đó không đủtư cách pháp nhân và năng lực thiết kế, dẫn đến nhiều sai sót về kỹ thuật, đơn giá.Cộng với việc bớt xén nguyên vật liệu, sử dụng xi măng, sắt không đúng chủng loại,thi công không đúng thiết kế đã làm cho nhiều công trình thủy lợi vừa đưa vào sử dụng đã bị hư hỏng. Theo kế hoạch phân bổ vốn kiên cố hóa kênh mương hàng năm, các địa phương phải chủ động lập báo cáo kỹ thuật để cơ quan chuyên môn căn cứ vào đó tham mưu cho UBND tỉnh phân bổ vốn. Nhưng để chắc ăn, các địa phương đợi có vốn mới làm thiết kế kỹ thuật, nên thi công thường bị chậm tiến độ, chất lượng công trình không đảm bảo. Nhưkênh N6b (Móng Cái) vữa xây tường mới chỉ bóp nhẹđãvỡ vụn;công trình thủy lợi Tràng Vinh, 5 tuyến kênh đất, do đất đắp pha quá nhiều cát, nên mỗi lần dẫn nước là kênh bị sạt lở. Đồng chí Lê Quang Phùng, Giám đốc Công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi miền Đông cho biết: “Khi tiếp nhận bàn giao công trình thủy lợi Tràng Vinh, Công ty và Ban 403 (Bộ NN&PTNT) đã báo cáo Bộ NN&PTNT, UBND tỉnh về thực trạng đầu tư xây dựng các tuyến kênh mương và đề nghị cho kiên cố tiếp những tuyến kênh còn lại, nhưng do chưa có kinh phí, nên đến nay các tuyến kênh này chưa thể đưa vào phục vụ sản xuất”.
Thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương, hiện nay các huyện được giao làm chủ đầu tư,huyện lại giao cho Ban quản lý dự án của địa phương quản lý. Do thiếu cán bộ có trình độ chuyên mônnên việc giám sát các nhà thầu trong quá trình thi công chưa được sát sao. Từ khi các huyện, thị xã được giao làm chủ đầu tư, việc lập dự án sửa chữa, nâng cấp, làm mới các công trình đều do các địa phương tự quyết, trong khi năng lực còn hạn chế, dẫn đến nhiều công trình vốn đầu tư lớn, nhưng hiệu quả thấp.Theo tính toán của Công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi miền Đông, hiện tại các công trình thủy lợi bị hư hỏng thuộcCông ty quản lý cần 1,665 tỷ đồng để tu sửa, nhưng cũng chỉ làsửa chữa chắp vá tạm thời,độ ổn định của công trình sẽ không cao.
Còn một nguyên nhân nữa là do việc bố trí nguồn vốn dàn trải, không tập trung,dẫn đến khó khăn trong thi côngvà đồng bộ các công trình thủy lợi. Năm 2006, nguồn vốn đầu tư cho kiên cố hóa kênh mương là 5,8 tỷ đồng, trong đó: vốn ngân sách tỉnh5 tỷ đồng, ngân sách huyện và nhân dân đóng góp800 triệu đồng,phân đều cho các huyện, mỗi huyện chỉ được vài trăm triệu đồng. Tính đến tháng 6-2006, toàn tỉnh đã kiên cố hóa được 713 km kênh mương, bằng 33% sotổng chiều dài kênh mương toàn tỉnh. Như vậy vẫn còn một lượng lớn chiều dài kênh mương cần được kiên cố hóa trong thời gian tới. Để các công trình thủy lợi xây dựng sau này không bị “đoản thọ”, thì các huyện, thị xã, thành phố đã được tỉnh giao làm chủ đầu tư cần tăng cường công tác quản lý trong quá trình lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế, nhà thầu, giám sát chặt chẽ trong quá trình thi công.
Hiện nay từ nguồn vốn trái phiếu của Chính phủ, tỉnh ta đang triển khai xây dựng công trình thủy lợi Đầm Hà Động. Đơn vị được giao làm chủ đầu tư quản lý dự án là Ban 403 của Bộ NN&PTNT (Đơn vịtừng được giao làm chủ quản lý dự án xây dựng công trình thủy lợi Tràng Vinh (Móng Cái) trước đây). Để tránh lặp lại tình trạng cũ, các cơ quan chuyên môn của tỉnh nên tham mưu với Bộ NN&PTNT, Ban 403 tìm giải pháp tối ưu nhất trong thiết kế, thi công, giám sát các nhà thầu xây dựng.