Bao giờ kinh tế thuỷ sản mới phát triển bền vững?

Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của ngành kinh tế thuỷ sản đã bị chững lại trên cả ba lĩnh vực: nuôi trồng, đánh bắt và chế biến. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản liên tục không đạt kế hoạch đề ra, nhiều dự án nuôi trồng thuỷ sản thua lỗ, không thể tiếp tục thực hiện, lực lượng khai thác ven bờ vẫn tập trung quá đông, tàu đánh bắt xa bờ thời gian nằm bờ nhiều hơn thời gian bám biển. Thực tế này đặt ra câu hỏi làm cách nào để kinh tế thuỷ sản phát triển bền vững?

Khu nuôi tu hài tại Bản Sen (Vân Đồn) của Công ty TNHH Hữu Tờ.

Khu nuôi tu hài tại Bản Sen (Vân Đồn) của Công ty TNHH Hữu Tờ.

Nuôi trồng vẫn chỉ là đánh bạc với trời

Mặc dù năm 2006, không chịu ảnh hưởng lớn của thiên tai nhưng theo thống kê của ngành Thuỷ sản vụ tôm xuân - hè và hè - thu năm 2006 toàn tỉnh có 150 ha tôm nuôi bị nhiễm bệnh đốm trắng, vàng mang và bệnh Vibrio. Tôm chết tập trung ở giai đoạn từ 1,5 - 2 tháng tuổi, các hộ dân đã phải thu hoạch sớm. Đồng chí Nguyễn Đình Hải, Trưởng Phòng kỹ thuật (Sở Thuỷ sản) cho biết: Các chủ đầm đã không tuân theo khuyến cáo của cơ quan chuyên môn mà dựa vào kinh nghiệm dân gian trong quá trình nuôi trồng. Vụ tôm xuân - hè năm 2006 mặc dù Sở đã có khuyến cáo với các chủ đầm sau tiết thanh minh mới bắt đầu thả tôm. Nhưng thấy nắng ấm sớm các chủ đầm đã thả tôm trước tiết thanh minh nên khi giao mùa chưa có mưa độ mặn trong ao không dung hoà được tôm không thể lột vỏ. Tôm là động vật thuỷ sinh nên vấn đề phòng bệnh phải được đặt lên hàng đầu còn chữa bệnh chỉ khi cần thiết, thế nhưng các chủ đầm không mấy quan tâm đến vấn đề này từ khâu cải tạo ao đầm, con giống, thức ăn, thời vụ thả nuôi đặc biệt là môi trường trong nuôi trồng.

Đi tìm nguyên nhân khiến nhiều dự án nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh bị thất bại thấy rằng ngoài yếu tố thời tiết bất lợi thì nguyên nhân chính vẫn là do hệ thống công trình nuôi không đúng theo tiêu chuẩn kỹ thuật, mương cấp nước, ao xử lý nước, ao cấp nước lợ, nước ngọt chưa đầy đủ, đồng bộ nên các đầm nuôi không chủ động được quy trình kỹ thuật trong quá trình nuôi; con giống không qua kiểm dịch; sử dụng thức ăn, thuốc thú y chế phẩm sinh học, các chất xử lý môi trường nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm hoặc hướng dẫn của cơ sở kinh doanh thức ăn.

Vụ tôm xuân - hè năm 2006 chúng tôi đến các đầm nuôi tôm theo phương thức thâm canh và bán thâm canh ở các địa phương: Yên Hưng, Hoành Bồ, Tiên Yên, Hải Hà, Móng Cái... thấy rằng phần lớn các vùng nuôi xây dựng không tuân thủ đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật về đảm bảo môi trường, xử lý chất thải nên đã gây ô nhiễm môi trường nước rất lớn. Hầu hết các đầm không có hệ thống dẫn, xử lý nước thải theo đúng quy trình, nước thải của đầm này lại là nước cấp cho các ao đầm khác vì vậy khi xảy ra dịch bệnh khó có thể kiểm soát. 70- 80% chất dinh dưỡng, (đạm và phốt phát) bổ sung cho các đầm nuôi bán công nghiệp đã thẩm thấu ra môi trường xung quanh. Chính vì không tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật trong khi xây dựng ao đầm đã làm cho chất lượng nước ở vùng ven bờ bị xuống cấp tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Đã không tuân thủ các quy trình kỹ thuật trong xây dựng ao đầm ngườinuôi tôm còn bất chấp chất lượng con giống vì ham rẻ nên đã mua con giống trôi nổi trên thị trường không qua kiểm dịch. Vì vậy mới có tình trạng 70%lượng tôm giống bán trên địa bàn là tôm giống nhập lậu. Thức ăn sử dụng trong nuôi trồng cũng là những sản phẩm trôi nổi trên thị trường, không rõ nguồn gốc, lượng kháng sinh tồn dư trong sản phẩm lớn gây mất an toàn cho người sử dụng. Thực tế hiện nay cho thấy người nuôi trồng thuỷ sản vẫn đang trong tư tưởng “năm được năm thua” nghĩa là chấp nhận “đánh bạc với trời”.

Khai thác quá lớn ở khu vực ven bờ

Toàn tỉnh hiện có 7.110 tàu khai thác thuỷ sản trong đó chỉ có 390 tàu khai thác, thu mua thuỷ sản xa bờ có công suất trên 90CV còn lại là tàu khai thác ven bờ. Do sự phát triển quá mất cân đối giữa khai thác ven bờ và xa bờ nên nguồn lợi hải sản vùng ven bờ đã sát hoặc cao hơn mức sản lượng bền vững cho phép. Mặc dù tổng sản lượng đánh bắt hải sản vẫn tăng nhưng hiệu suất khai thác (tấn/CV/năm) đã giảm và có dấu hiệu khai thác quá mức. Nguồn lợi vùng bờ giảm dần cả trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt được, tỷ lệ cá tạp trong một mẻ lưới tăng tới 70%. Một số loài cá vẫn đánh bắt với số lượng lớn ở vùng bờ nay đã trở nên khan hiếm như loài cá trích, tôm hùm, bào ngư, điệp và mực... Nguồn lợi vùng ven bờ sẽ tiếp tục bị suy giảm và phục hồi chậm do các nơi cư trú tự nhiên ven biển tiếp tục bị thu hẹp. Lượng dự trữ để tái tạo nguồn lợi còn rất ít và đang có dấu hiệu suy giảm nghiêm trọng. Nghề cá vùng ven bờ tỉnh ta mang đặc thù của nghề cá truyền thống, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, quản lí theo ngư hộ, ít đầu tư cho công nghệ và môi trường. Do đời sống của cư dân ven biển nghèo, thiếu vốn đầu tư cộng với nhận thức thấp nên vẫn giữ thói quen khai thác nguồn lợi là chính chưa quan tâm đến việc sử dụng lợi ích đa dạng sinh học, trách nhiệm với môi trường. Trong khi đó công tác quy hoạch và các chính sách quản lý chưa theo kịp nhu cầu thực tế của thị trường và người dân.

Thực hiện chương trình cải hoán, đóng mới số lượng tàu khai thác xa bờ của tỉnh đã tăng đáng kể tuy nhiên trong tổng số 41 tàu đóng mới thì 8 tàu đã phải nằm bờ trên 6 tháng, 14 tàu cải hoán thì 8 tàu bị hư hỏng không thể ra khơi. Hiện nay lực lượng tàu thuyền khai thác xa bờ có hơn nửa số tàu nằm trong các tổ chức HTX, tổ hợp, doanh nghiệp tư nhân nhưng việc điều hành, tổ chức sản xuất và hạch toán kinh tế của các tổ chức này còn nhiều bất cập, chưa phát huy được ưu thế của hình thức tổ chức kinh tế tập thể. Thực tế hiện nay đòi hỏi nhanh chóng khắc phục những mặt yếu kém tồn tại trong khai thác xa bờ để tiến ra khơi chính là đòi hỏi bức xúc của nghề cá tỉnh ta.

Lực lượng khai thác tập trung ở khu vực ven bờ quá đông đã làm suy giảm nguồn lợi thuỷ sản.

Lực lượng khai thác tập trung ở khu vực ven bờ quá đông đã làm suy giảm nguồn lợi thuỷ sản.


Chế biến xuất khẩu - không hẳn là do thiếu nguyên liệu

Năm 2006 giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 16 triệu USD, thấp hơn so với chỉ tiêu giao là 1 triệu USD. Mặc dù chưa đạt kế hoạch đề ra nhưng cũng rất đáng phấn khởi, khích lệ bởi sau nhiều năm liên tục chỉ đạt được trên nửa kế hoạch giao năm qua kim ngạch xuất khẩu đã tăng cao đáng kể. Tuy vậy nhìn lại tình hình sản xuất những tháng đầu năm thấy rằng các Nhà máy chế biến chỉ hoạt động khoảng 40- 45% công suất do thiếu nguyên liệu. Nguyên nhân chính là do chưa làm tốt khâu thu mua, các công ty chỉ thu mua được khoảng 30% số nguyên liệu từ nuôi trồng và khai thác, còn lại phần lớn nguyên liệu được bà con ngư dân xuất bán trực tiếp sang Trung Quốc hoặc bán cho các doanh nghiệp tỉnh ngoài. Mặc dù ngành Thuỷ sản đã quy hoạch được các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, các địa phương đều xây dựng xong quy hoạch chi tiết, một số vùng đã đưa vào nuôi và có sản phẩm nhưng sản phẩm đủ tiêu chuẩn chế biến và xuất khẩu lại rất ít. Hiện nay phần lớn nguyên liệu phục vụ cho chế biến thuỷ sản xuất khẩu phụ thuộc vào sản lượng khai thác nhưng do sự phát triển mất cân đối giữa 2 lực lượng khai thác ven bờ và xa bờ đã ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng đồng thời công tác dịch vụ hậu cần nghề cá hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất. Toàn tỉnh hiện chưa có cảng cá nào được đầu tư hoàn chỉnh, do đó rất khó khăn cho công tác bốc xếp và tiêu thụ sản phẩm, cung ứng vật tư hậu cần cho nghề khai thác, hầu hết các tàu khai thác xa bờ đưa sản phẩm đi tiêu thụ trực tiếp hoặc bán ngay trên ngư trường cho tàu buôn của Trung Quốc.

Hiện nay lĩnh vực chế biến thuỷ sản còn quá nhiều bất cập, không đáp ứng được yêu cầu phát triển trong tình hình mới, các đơn vị xuất khẩu thuỷ sản chưa thực sự năng động đổi mới, tìm kiếm thị trường; nguyên liệu từ nuôi trồng và chế biến không đảm bảo chất lượng. Toàn tỉnh có 5 cơ sở chế biến, trong đó có 3 cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Tổng công suất cấp đông của các đơn vị này là 50 tấn/ngày, công suất kho bảo quản lạnh trên 2.000 tấn. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn thì thực trạng chung hiện nay công nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu còn nặng về dịch vụ thương mại ít tập trung chế biến các sản phẩm thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa vì vậy nhiều vùng nguyên liệu không có nơi tiêu thụ gây khó khăn và làm thiệt hại cho người sản xuất, hạn chế sự phát triển của nghề khai thác và nuôi trồng.

Trong tình hình hiện nay các rào cản về kỹ thuật đang được các nước áp dụng rất ngặt nghèo đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu. Vì vậy đòi hỏi bắt buộc là phải nhanh chóng điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất, tạo ra những sản phẩm sạch đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Bao giờ và làm thế nào để ngành kinh tế thuỷ sản phát triển bền vững? Lời giải không chỉ đặt ra cho các cơ quan chuyên môn, các cấp chính quyền mà còn phụ thuộc ở sự thay đổi về tư duy, cách làm ăn của người nuôi trồng và doanh nghiệp trong ngành Thuỷ sản.

Cùng chuyên mục