Năm qua được đánh giá là năm của ngành Ngân hàng với sự “bung” ra hàng loạt ngân hàng mới từ đủ mọi thành phần kinh tế. Trào lưu thành lập Ngân hàng mạnh đến nỗi nhiều tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty lớn cũng “bon chen” vào lĩnh vực này. Đâu là sức hấp dẫn khiến kinh doanh ngân hàng thu hút đến vậy? Thực trạng của ngành ngân hàng Việt Nam sau một năm “hưng phấn” thế nào? Chúng tôi đã có cuộc đối thoại thẳng thắn với Luật sư Trần Đình Triển, Trưởng ban Pháp luật Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam xung quanh câu chuyện này.
Phóng viên (PV): Chỉ tính riêng số lượng ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước đã lên đến con số 53. Với một nền kinh tế quy mô nhỏ như Việt Nam, theo ông, 53 có phải là quá nhiều?
Luật sư Trần Đình Triển (TĐT): Đây là một câu hỏi rất hay, rất thời sự, không chỉ đặt ra với các chuyên gia mà còn cần phải đặt ra cho cơ quan quản lý Nhà nước. Vì bất cứ xã hội nào cũng có 3 mục tiêu phải đạt được đó là: tăng trưởng, an ninh quốc phòng, giải quyết tốt công ăn việc làm và ổn định tiền tệ. Với 3 mục tiêu đó, hệ thống Ngân hàng thực sự là một trong những trụ cột, không chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế mà còn cả những vấn đề xã hội….
Quay trở lại với câu hỏi, muốn biết câu trả lời trước hết phải tính được nhu cầu của nền kinh tế xã hội. Nhu cầu đó sẽ cho chúng ta biết hệ thống ngân hàng phải phát triển đến đâu và dự tính cho tương lai thế nào. Từ đó mới ra được số lượng và độ mạnh bao nhiêu là đủ.
PV: Vậy theo ông, với một quy mô nền kinh tế của chúng ta, bao nhiêu Ngân hàng là đủ?
TĐT: Thực ra, với các nền kinh tế phát triển, họ không cần đặt ra câu hỏi này vì họ không bao giờ khống chế số lượng NH. Doanh nghiệp đủ điều kiện và cứ thế hoạt động kể cả tư nhân cũng được phép tham gia thị trường. Nhưng ta không thể học theo họ được, không thể thoải mái cấp phép cho thành lập NH mới, dù để trả lời chính xác số lượng bao nhiêu là câu hỏi có ý nghĩa chiến lược và phải tầm vĩ mô mới đủ khả năng tính toán được.
Thứ hai, xét cho cùng, số lượng bao nhiêu không quan trọng mà vấn đề là chất lượng. Nếu vốn nhiều, hệ thống ngân hàng mạnh thì chỉ cần 10 ngân hàng là đủ. Nhưng năng lực kém, vốn yếu thì liệu nhiều NH như vậy cũng có chắc giải quyết mọi vấn đề cho nền kinh tế hay chưa?
Hiện NH của ta vốn thấp mà lại mở ra nhiều chi nhánh. Việc mở ra không có thực chất như vậy là rất đáng trách. Vì mở nhiều chi nhánh mà ngân hàng vốn không lớn, kinh doanh không có lãi thì rõ ràng đưa đến việc tăng lãi suất hay lấy vốn đầu tư sang các lĩnh vực khác như kinh doanh bất động sản hoặc các hoạt động khác... tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh và khó lường cho nền kinh tế.
Ngoại trừ Ngân hàng Nhà nước – có chức cơ quan quản lý Nhà nước, hệ thống tổ chức tín dụng làm dịch vụ kinh doanh tiền tệ và dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế - xã hội hiện bao gồm: các NH Thương mại nhà nước, NH Thương mại cổ phần, công ty tài chính, công ty thuê mua tài chính, quỹ tín dụngvà HTX tín dụng, NH liên doanh, chinh nhánh NH nước ngoài…Bên cạnh đó còn nhiều tổ chức kinh doanh khác như là Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT) với dịch vụ tiết kiệm bưu điện, NH phát triển... Riêng số lượng các NHTM trong nước đã lên đến con số 53.
PV: Kết quả thanh tra tín dụng mới đây cho thấy chất lượng tín dụng của các NHTM thấp, nhất là ở nhóm các NH mới thành lập. Bình luận của ông về kết quả thanh tra tín dụng mới đây về chất lượng tín dụng NH?
TĐT: Tôi nghĩ thế này, trong hệ thống NH truyền thống quốc doanh. Các NH cổ phần ra đời sớm, bản thân từng lao đao nhưng đã trụ được và có được nhiều khách hàng quen thuộc. Trong khi các NH nhỏ mới ra đời phải trang trải rất nhiều vấn đề: chi phí trụ sở, tiền lương… thì họ phải kinh doanh mà kinh doanh trong bối cảnh chưa có khách hàng truyền thống. Vậy thì bản thân họ phải dùng mọi biện pháp quảng cáo và thu hút khách hàng, khiến chi phí càng tăng lên. Chưa kế, để cạnh tranh cho vay thì không thể cứ nguyên tắc quá nên nhiều khi họ đã gặp rủi ro do bỏ qua các nguyên tắc an toàn. Đó là lý do khiến nhiều NH nhỏ ôm nợ xấu. Đến đây lại đặt ra vấn đề đối với quản lý NN là hiện nay có nên tiếp tục cho ra đời những NH bé quá hay không.
PV: Vì thế mới dẫn đến cuộc đua lãi suất cuối tháng 2 vừa qua. Thế nhưng, số hồ sơ xin thành lập NH mới vẫn ngày càng dày lên, trong đó có cả những Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty. Ông nhìn nhận thế nào về trào lưu này khi cho phép các đối tượng này được phép huy động đồng vốn của dân?
TĐT: Về mặt cơ chế thị trường, nếu các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty có khả năng thành lập NH thì chúng ta không hạn chế. Nhưng trong điều kiện đặc biệt của Việt Nam cần phải cân nhắc rất kỹ. Bởi vì đã ra đời một NH thì nó mang tính đại chúng không thể bó hẹp, phục vụ riêng một nhóm nào đó trong khi chỉ để tương trợ thì trong tập đoàn đã có mô hình công ty tài chính.
Vậy tại sao không thành lập công ty tài chính để thu hút, cân đối vốn mà lại phải ra đời NH? Đó là vấn đề pháp lý cần giải quyết. Vì NH có chức năng huy động tiền gửi, cho vay rộng rãi trong dân chúng. Ngoài ra còn làm chức năng thanh toán cho nền kinh tế xã hội.
Do đó, quan điểm của tôi là hoàn toàn không nên cho các tập đoàn, Tổng công ty thành lập NH trong bối cảnh hiện nay. Không chỉ NH đó khó cạnh tranh mà còn ảnh hưởng chung cho nền kinh tế và xã hội, đổ gánh nặng lên cho NN. Thay vào đó nên tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực quản lý, đẩy mạnh công nghệ NH, tăng sức cạnh tranh và mở rộng mạng lưới ở vùng nông thôn.
Vì sao tôi nói điều này? Giờ các bạn thử đi dọc đường Láng Hạ có thể đếm được ít nhất 8 ngân hàng có chi nhánh tọa lạc. Ngân hàng ra đời nhiều nhưng chỉ tập trung mở chi nhánh ở các đô thị trong khi nơi cần thiết là nhu cầu vốn và thanh toán cho người dân ở vùng sâu, vùng xa thì lại lèo tèo, đến cấp huyện hầu như chỉ có chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
PV: Nhưng ông cũng thấy là các NH thương mại, nhất là những NH mới mở là doanh nghiệp cổ phần và họ chỉ có nhiệm vụ tìm kiếm lợi nhuận chứ không phải làm chính sách. Việc đó là của các NH quốc doanh…
TĐT: Đúng là doanh nghiệp thì phải tính đến lợi nhuận và phải nhìn nơi nào có khả năng thu được lợi nhuận. Ví dụ ở đô thị, chỉ cần cho một doanh nghiệp vay 10 tỷ đồng nhưng với khoản bút toán như vậy thì ít có ở nông thôn. Nhiều khi, từ trụ sở huyện đi đến xã mất cả 1 ngày xe máy, người ta cũng chỉ cho vay được 5 - 10 triệu trong khi chi phí đội lên. Chi phí như vậy nên dễ hiểu vì sao các NH lại đua nhau mọc lên ở đô thị. Hệ quả là chủ trương “đưa nông thôn tiến kịp thành thị” vẫn đang trên giấy tờ.
Tại các thành phố lớn là nơi tập trung rất nhiều ngân hàng
Tôi nghĩ, tại đô thị, không nên cho mở thêm ngân hàng và chi nhánh nữa mà cần khuyến khích mở ngân hàng và chi nhánh kể cả quỹ tín dụng ở vùng nông thôn để giải quyết tốt dịch vụ ngân hàng cho bà con.
PV: Một trong những vấn đề khác là tỷ lệ tín dụng và dịch vụ tại các NH Việt Nam vẫn còn quá chênh lệch. Trong khi các NH lớn trên thế giới làm dịch vụ rất mạnh, lợi nhuận từ mảng này rất lớn? Nếu chỉ dựa vào tín dụng thì quá chao đảo?
TĐT: Đây cũng là câu hỏi rất hay, chạm vào vấn đề thời sự của các NHTM. Đối với hệ thống NH ở các nước phát triển, thu lợi từ phí dịch vụ rất lớn, thậm chí còn chiếm tỷ trọng chủ yếu. Sản phẩm dịch vụ NH ỏ VN quá lạc hậu và quá ít. Mảng dịch vụ cũng đầy rủi ro không kém tín dụng vì mọi hoạt động của NH đều gắn với rủi ro nhưng càng nhiều dịch vụ thì càng phục vụ tốt cho nền kinh tế. Nhưng muốn làm được điều đó trước hết phải xuất phát tự thân các NH, trong điều kiện nước ta đã vào WTO, nếu các NH trong nước không nâng cao tính cạnh tranh của mình thì sẽ bị các NH nước ngoài lấn lướt.
PV: Nhưng thực tế, hiện hai NH nước ngoài có tham gia bán lẻ là ANZ và HSBC vẫn chưa có nhiều ảnh hưởng tới đông đảo người dân?
TĐT: Giả sử thế này, nếu bạn có tiền bạn thà cho con bạn gửi trẻ ở nơi dịch vụ tốt giá cao nhưng nếu ít hơn thì chọn ngược lại. Lợi thế sẽ thuộc về ai làm tốt hơn, chuyên nghiệp hơn. Trong cơ chế hội nhập các NH phải tự hội nhập, những khoản thu dịch vụ rất yếu trong khi đây là nguồn thu lớn và chính của nhiều NH trên thế giới. Phải đào tạo cán bộ, làm tốt hơn cơ chế chính sách của NN và cuối cùng rất quan trọng là vấn đề dân trí. 3 yếu tố này phải cùng đồng hành.
Pv: Vậy theo ông, chính sách của nhà nước cần làm thế nào?
TĐT: Tình hình hiện nay không để NH phá sản vì điều kiện Việt Nam và yếu tố tâm lý, do đó cần hạn chế số lượng các NH mới và tiến hành phân bổ lại để cân bằng lợi ích toàn nền kinh tế-xã hội.
Pv: Xin cám ơn ông!