Bước chuẩn bị cho tương lai

Quảng Ninh có thị trường xây dựng rộng mở, đồng thời là nơi có nguồn nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) dồi dào. Vì vậy, việc quản lý khai thác nguồn nguyên liệu này một cách khoa học, hiệu quả đáp ứng được tốc độ xây dựng tăng nhanh theo từng năm là một vấn đề khá bức thiết.

Để sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao cho trị trường xây dựng trong nước và xuất khẩu, đưa ngành công nghiệp xây dựng vật liệu có quy mô lớn và hiện đại. Vấn đề hàng đầu đó là phải làm tốt công tác quy hoạch. Tỉnh đã quy hoạch các cụm công nghiệp sản xuất vật liệu tập trung với tiêu chí sử dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu và bảo vệ môi trường.

Bước chuẩn bị cho tương lai ảnh 1
Dây chuyền sản xuất VLXD tại Xí nghiệp gạch Tiêu Dao (Công ty CP Viglacera Hạ Long).

Quy hoạch này chỉ rõ, phát triển các chủng loại VLXD có giá trị như xi măng; vật liệu xây, lát, lợp từ đất sét nung; gạch ceramic, tấm lợp kim loại, bê tông thương phẩm, kính xây dựng. Theo quy hoạch đến năm 2015, sản lượng VLXD tăng từ 30 đến 35% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, trong đó một số sản phẩm chủ yếu như xi măng đạt 12,7 triệu tấn; các loại gạch xây dựng 953,4 triệu viên; vật liệu lợp 12,4 triệu m2; bê tông đúc sẵn và bê tông thương phẩm 557.000m3; kính xây dựng 12,18 triệu m2; polyme composite và cửa nhựa 1,1 triệu m2; đá xây dựng 3,745 triệu m3; gạch cotto 14 triệu m2; gạch ceramic 10 triệu m2; đá ốp lát 0,1 triệu m2; gạch terastone 0,4 triệu m2... Qua đó giá trị sản xuất VLXD đạt khoảng 12.000 đến 13.000 tỷ đồng/năm; giải quyết cho gần một vạn lao động có việc làm và thu nhập ổn định. Từ 2011 đến 2015 tiếp tục xây dựng 2 nhà máy  xi măng là Thăng Long 2 và Hạ Long 2, đến 2020 đưa sản lượng xi măng lên 12,07 triệu tấn, trong đó riêng nghiền clinker cho các tỉnh phía Nam là 7,738 triệu tấn. Đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ nâng cao tỷ lệ các sản phẩm gốm mỏng có giá trị kinh tế cao như gạch ốp lát, các loại ngói lợp, ngói trang trí... Dự kiến tỷ lệ sản phẩm mỏng chiếm từ 30 đến 50% sản lượng sản xuất. Xây dựng mới các cơ sở sản xuất gạch tuynel ở miền Đông, trong đó Bình Liêu và Ba Chẽ đều có sản lượng 10 triệu viên/năm; Hải Hà 15 triệu và sau năm 2015 tăng lên 30 triệu viên/năm. Xây dựng mới các nhà máy gạch không nung ở 5 địa phương là Cẩm Phả 40 triệu viên/năm và Hạ Long, Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ đều có công suất 20 triệu viên/năm. Khuyến khích đầu tư công nghệ sản xuất gạch không nung bằng bê tông nhẹ, cách âm, cách nhiệt, tận dụng phế thải của quá trình khai thác đá và xỉ nhiệt điện, góp phần bảo vệ môi trường; đổi mới công nghệ tăng tỷ lệ các loại ngói 22 viên/m2, mũi hài, ngói tráng men, ngói mũi và các loại ngói khác lên tỷ lệ hợp lý. Xây nhà máy sản xuất ngói lợp cao cấp tại Kim Sơn, Tràng An (Đông Triều) và một số địa phương có nguồn sét chất lượng như Hạ Long, Hoành Bồ. Ngừng khai thác đá xây dựng tại Yên Cư (Hạ Long) và Vân Đồn để bảo vệ cảnh quan, phục vụ du lịch. Chế biến đá xây dựng có quy mô lớn từ 100.000m3/năm trở lên tại các địa phương có trữ lượng đá xây dựng lớn và hội đủ những điều kiện vận chuyển thuận lợi như Hoành Bồ, Uông Bí, Cẩm Phả. Coi trọng việc sản xuất bột đá vôi, phục vụ cho việc khử lưu huỳnh trong quá trình đốt than tại các nhà máy nhiệt điện. Tìm kiếm, đánh giá trữ lượng công nghiệp của một số loại quặng Quăczit (Tiên Yên), rionit ở Ba Chẽ, Bình Liêu và Hải Hà để đáp ứng cho nhu cầu xây dựng và xuất khẩu. Về khai thác cát xây dựng, sẽ đầu tư khai thác tại mỏ cát Cầu Cầm thuộc địa phận các xã Hưng Đạo, Xuân Sơn, Đức Chính, Tràng An và mỏ cát Hồng Thái Đông (Đông Triều). Đầu tư các cơ sở nghiền cát nhân tạo, tận dụng phế thải khi chế biến đá để tạo thêm nguồn cát xây dựng. Với các loại gạch cao cấp, trong đó duy trì và mở rộng công suất gạch cotto Giếng Đáy tại Công ty cổ phần Hạ Long Viglacera; đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất loại gạch này tại Đông Triều và những địa phương có nguồn đất sét tốt, để đưa sản lượng lên 21 triệu m2 vào năm 2020. Tại Hải Hà, riêng làm đá ốp lát, hoàn thiện và mở rộng thêm nhà máy tại Quảng Sơn, giai đoạn đầu có công suất 30.000m2/năm; đầu tư làm nhà máy mới tại Quảng Thành công suất 30.000m2/năm. Xác định trữ lượng công nghiệp để làm các sản phẩm từ đá granit tại Bình Liêu, Tiên Yên, Ba Chẽ để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Hạn chế khai thác cát trắng tại Quan Lạn để giữ cảnh quan môi trường cho du lịch, duy trì khai thác đến 2020 đạt sản lượng 260.000 tấn/năm. Thăm dò khảo sát các nguồn cát tại các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Thực để bổ sung cho các năm sau. Tăng cường thăm dò khai thác Kaolin-Pirophilit khu vực thân quặng ở Bình Liêu, Ba Chẽ, Hải Hà để đưa sản lượng chế biến lên 200.000 đến 300.000 tấn/năm. Đầu tư sản xuất gạch Terastone  tại khu công nghiệp Việt Hưng công suất 400.000m2/năm đáp ứng nhu cầu lát vỉa vè, quảng trường của các khu đô thị. Nâng công suất nhà máy bê tông đúc sẵn tại Hạ Long và Cẩm Phả lên 30.000 tấn/năm. Phát huy các cơ sở sản xuất bê tông thương phẩm tại Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả, đồng thời đầu tư mở rộng sản xuất tại Hải Hà, Đông Triều, Móng Cái, đưa sản lượng đến 2020 đạt 550.000m3/năm. Nâng công suất làm kính xây dựng tại Cẩm Phả lên 12 triệu m2/năm và sản xuất kính dán an toàn tại khu công nghiệp Việt Hưng 180.000m2/năm.

Để thực hiện mục tiêu quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020, tỉnh đã đặt ra một số giải pháp để đẩy mạnh huy động vốn đầu tư, đề ra các chính sách khuyến khích ưu đãi, mở rộng các hình thức liên doanh liên kết để đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất. Kết hợp giữa khai thác, phát triển sản xuất VLXD với bảo vệ môi trường. Đề ra những phương án cụ thể để quản lý sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên. Đối với cơ sở sản xuất phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng, chú trọng đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề. Có chính sách thu hút nhân tài để đưa sự nghiệp phát triển ngành VLXD lên tiên tiến hiện đại trong một thời gian ngắn.

Cùng chuyên mục