Cần các biện pháp thắt chặt quản lý đất lâm nghiệp

Vừa qua, Báo Quảng Ninh đã có bài viết phản ánh về việc một số người dân xã Phong Dụ (huyện Tiên Yên) chiếm đất lâm nghiệp trái phép và hành hung cán bộ Công ty Lâm nghiệp Tiên Yên. Điều đáng nói là việc tranh chấp này đã xảy ra từ rất lâu nhưng vẫn không được giải quyết triệt để nên ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Sự việc kéo dài còn tạo ra “bức tường ngăn cách” giữa người dân và chính quyền địa phương cũng như đối với doanh nghiệp. Đây không còn là vấn đề của một xã, một huyện mà đã trở thành thực trạng của một số địa phương, nếu không có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, hậu quả sẽ rất nặng nề và càng khó giải quyết.

Cần các biện pháp thắt chặt quản lý đất lâm nghiệp ảnh 1
Tách bầu ươm cây keo giống tại Trung tâm nghiên cứu ứng dụng nông - lâm nghiệp.

Trước đây, khi đất lâm nghiệp còn chưa có giá như bây giờ, ít ai quan tâm đến vấn đề khai thác nguồn tài nguyên này để phát triển kinh tế, thậm chí một số người cực chẳng đã mới phải nhận đất trồng rừng. Thế nhưng, mọi chuyện đã thay đổi, hiện nay, trồng rừng đang được coi là một nghề “hái ra tiền” bởi chỉ cần chịu khó đầu tư cây giống và có biện pháp chăm sóc khoa học thì sau vài năm, vài ha đất rừng cũng có thể mang lại cả trăm triệu đồng. Nhiều hộ gia đình có nhu cầu phát triển kinh tế từ nghề trồng rừng đã được chính quyền địa phương cũng như các lâm trường tạo điều kiện bàn giao đất rừng để quản lý, chăm sóc. Cũng vì thế, theo thời gian, số đất rừng các lâm trường quản lý ngày càng bị thu hẹp. Theo số liệu từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trước năm 2004, toàn tỉnh có khoảng hơn 100.000 ha đất lâm nghiệp, chủ yếu giao cho các lâm trường quản lý. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết 28 của Thủ tướng Chính phủ về việc “sắp xếp đổi mới các lâm trường quốc doanh”, các lâm trường (nay là công ty lâm nghiệp) đã thực hiện một số bước bàn giao đất cho người dân quản lý nên đến thời điểm hiện tại quỹ đất của các lâm trường trên địa bàn tỉnh chỉ còn khoảng hơn 64.000 ha (trong đó diện tích đất rừng để sản xuất kinh doanh khoảng 46,3 nghìn ha, còn lại là diện tích đất rừng phòng hộ). Như vậy, trong vòng 4 năm trở lại đây, các công ty lâm nghiệp đã bàn giao gần 40.000 ha đất rừng cho địa phương và người dân, số đất còn lại có khả năng còn “cắt” nữa nếu thực sự người dân có nhu cầu chính đáng. Theo tính toán của các cơ quan chuyên môn, có thể đến năm 2010, toàn bộ số đất rừng của các công ty lâm nghiệp sẽ được phủ xanh 100%. Theo chu kỳ 6-8 năm mới thu hoạch lâm sản 1 lần thì chẳng bao lâu nữa các công ty lâm nghiệp sẽ thiếu đất để tiếp tục phát triển sản xuất. Khó khăn chồng chất khó khăn khi người dân vẫn tiếp tục “ngắm” đất lâm trường để “đòi”.

Nhằm giúp người dân phát triển kinh tế bằng nghề trồng rừng, các công ty lâm nghiệp hiện nay đã tạo điều kiện để người dân được hưởng những ưu đãi, như: Nếu người dân có nhu cầu và khả năng thì Công ty sẽ thuê khoán cho họ trồng rừng, đơn giá thuê khoán theo giá thị trường tại thời điểm nhận. Ngoài ra, các công ty còn dành một phần diện tích nhất định để giao khoán cho các hộ gia đình trồng rừng theo hình thức: Công ty đầu tư bằng cây giống, chăm sóc và bảo vệ, sau 6 năm (tính 1 chu kỳ thu hoạch lâm sản), các hộ gia đình chỉ phải bàn giao lại cho công ty một số lượng lâm sản rất nhỏ (khoảng 3-5m3 gỗ/ha), toàn bộ sản phẩm còn lại công ty cam kết sẽ thu mua hết theo đơn giá thị trường tại thời điểm thu hoạch. Về phía các địa phương cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển trồng rừng như: Mở các lớp tập huấn về trồng rừng, chăm sóc và phát triển cây giống, cho vay vốn... Những việc làm trên đã tạo tiền đề cho nhiều người dân phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu từ rừng. Thế nhưng, lợi dụng những chủ trương đúng đắn này, người dân ở một số địa phương đã sử dụng đất lâm trường để trồng rừng trái phép hoặc được các công ty lâm nghiệp “khoán đất” nhưng lại không sử dụng vào mục đích trồng rừng. Ông Lê Công Tuyến, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Bình Liêu cho biết: ở Bình Liêu, tổng diện tích đất lâm trường bị xâm lấn ước chừng khoảng trên dưới 100 ha. Tuy nhiên, số diện tích đất này nằm rải rác nhiều nơi. Công ty cũng đã có nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động bà con ký các hợp đồng trong việc trồng và quản lý rừng và khi thu hoạch sẽ  bao tiêu sản phẩm theo giá thị trường, nhưng bà con lúc nghe, lúc không. Hiện nay nhiều công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng cùng chung tình trạng như trên.

Cần các biện pháp thắt chặt quản lý đất lâm nghiệp ảnh 2

Phần đất lâm nghiệp đang xảy ra tranh chấp giữa Công ty Lâm nghiệp Tiên Yên với người dân thôn Văn Mây, xã Phong Dụ (Tiên Yên).

Tuy nhiên, quan điểm “dĩ hoà vi quý” trên không phải lúc nào cũng hiệu quả. Điển hình là vụ việc người dân xã Phong Dụ lấn chiếm đất lâm nghiệp và hành hung cán bộ Công ty Lâm nghiệp Tiên Yên. Thực chất của sự việc này không phải do các hộ dân ở xã Phong Dụ thiếu đất (ở đây, các hộ dân quản lý vài ha đất rừng là chuyện bình thường, trong đó có không ít đất rừng vẫn còn là đất trống, chưa được khai thác). Tuy nhiên, do chính quyền địa phương làm việc thiếu kiên quyết khi tiến hành bàn giao đất cho người dân dẫn đến người dân hiểu sai, cho rằng “chính quyền đã nhượng bộ” và tiếp tục đòi đất của Công ty. Sự việc lúc đầu chỉ ở một thôn, nhưng nay đã lan ra hầu hết các thôn ở xã Phong Dụ. Đến nay, sự việc càng trở nên phức tạp: Doanh nghiệp phải tạm dừng sản xuất tại khu vực xảy ra tranh chấp; bộ máy chính quyền từ cấp xã đến cấp thôn có nguy cơ phải thay đổi; người dân mất niềm tin vào cơ quan công quyền và không chỉ có thế, một số người dân quá khích ở thôn Văn Mây còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong thời gian tới…

Có thể thấy ngay một điều là nhận thức của người dân về đất lâm nghiệp chưa cao. Đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có người dân tộc thiểu số sinh sống, người dân vẫn có suy nghĩ “giữ đất rừng để cho các thế hệ sau này còn có đất” hoặc dựa vào lợi ích trước mắt là bán đất lấy tiền luôn cho được giá. Đây là một cách hiểu sai lầm, vì nếu người dân có thể phát huy trồng rừng tốt thì chính quyền địa phương cũng như các lâm trường sẵn sàng tạo điều kiện để người dân trồng rừng lâu dài và hiệu quả từ rừng chắc chắn còn cao hơn nhiều so với việc bán đất. Nguy hiểm hơn, dựa vào những cách hiểu sai lầm này, nhiều đối tượng đã lôi kéo người dân “đòi đất” với nhiều mục đích, trong đó không loại trừ khả năng gây nhũng nhiễu, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Nếu thực sự người dân sử dụng đất rừng có hiệu quả thì việc chính quyền cũng như các lâm trường tạo điều kiện cho người dân phát triển là việc không cần bàn cãi. Thế nhưng, nếu như việc “đòi đất” của người dân chỉ xuất phát từ những mối lợi trước mắt mà không có hướng phát triển kinh tế từ rừng lâu dài thì thiết nghĩ các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương cũng như các lâm trường nên có biện pháp quản lý kiên quyết và hiệu quả hơn để thắt chặt việc quản lý nguồn tài nguyên quý giá này.

Cùng chuyên mục