Chị Tạ Thị N, trú tại tổ 2, khu 1, phường Yết Kiêu (TP Hạ Long) vừa đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) Đài Loan về. Công việc của chị là giúp việc cho một gia đình, dọn dẹp nhà cửa, nấu cơm, chăm sóc người già; lương 8 triệu VND/tháng, cuối tuần được nghỉ 2 ngày.
Sau 3 năm làm việc chăm chỉ, chủ nhà mất, họ không thuê nữa. Vì tiền dành dụm chưa được bao nhiêu, trong khi nợ vay đi XKLĐ vẫn chưa trả được, nên chị quyết định không về nước trước thời hạn, mà trốn ở lại, tìm việc khác làm. Nhưng chỉ làm được gần 2 tháng chị bị trục xuất về nước. Chị bảo: Làm cái nghề “ôsin” này cũng nhiều rủi ro, ai may mắn thì được chủ nhà thông cảm, trả lương sòng phẳng. Nhưng có nhiều trường hợp gặp phải những chủ nhà khó tính, phân biệt đối xử, thậm chí còn tìm mọi cách bắt lỗi để trừ lương…
Đã và đang có nhiều người làm công việc như chị N. Họ cho biết, với những người trình độ, sức khoẻ có hạn thì công việc này rất phù hợp, nhưng rủi ro nhiều, không ít người bị kết thúc sớm hợp đồng...
Lao động học tập trước khi XKLĐ tại Trung tâm Đào tạo và XKLĐ của Công ty CP Đầu tư và XNK Quảng Ninh.
XKLĐ là một trong những dự án lớn thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm được triển khai trong những năm qua, góp phần quan trọng để giải quyết việc làm và giảm nghèo. Ở Quảng Ninh, công tác XKLĐ đã có những tác động nhất định đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đó là tạo thêm được việc làm mới, tăng thu nhập và tích luỹ vốn cho người lao động, từng bước làm chuyển biến nhận thức của người dân về việc làm, tăng tỷ lệ lao động nông thôn, lao động miền núi, hải đảo và người nghèo, dân tộc thiểu số tham gia XKLĐ. Tuy vậy, số lượng lao động tham gia xuất khẩu còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, nhất là trong năm 2009 và 2010...
Theo số liệu tổng hợp của Sở LĐ-TB&XH, thông qua chương trình XKLĐ sang Hàn Quốc qua Bộ LĐ-TB&XH và chương trình XKLĐ qua các doanh nghiệp, 9 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh có 236 lao động đã xuất cảnh và đủ thủ tục, điều kiện chờ xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài. Như vậy khả năng năm 2010, tỉnh không hoàn thành kế hoạch XKLĐ (800 người).
Theo QĐ 3021 của UBND tỉnh, phê duyệt chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc làm toàn tỉnh giai đoạn 2006-2010, mục tiêu đặt ra, bình quân mỗi năm giải quyết 2,4 vạn LĐ, trong đó XKLĐ 7.500 người. Từ năm 2007 đến nay toàn tỉnh đã đưa được 2.292 người đi XKLĐ sang các thị trường: Quatar, Malaysia, Jocdan, Nhật Bản, Síp, Nga, Hàn Quốc, Đài Loan Du bai, Arập… Một số trường hợp hết hạn hợp đồng lao động, tiếp tục xin gia hạn, một số khác về nước trước hạn, chưa kịp làm để trả nợ ngân hàng trong khi đã phải chi phí các khoản không thể hoàn lại...
Những năm qua, tỉnh cũng đã có nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh công tác này, như cho vay vốn từ ngân hàng CSXH, hỗ trợ đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng... Từ năm 2007 đến nay, cùng với nguồn của T.Ư, tỉnh đã trích 6 tỷ đồng từ ngân sách chuyển cho ngân hàng CSXH cho mỗi đối tượng XKLĐ được vay tối đa 50 triệu đồng. 8 tháng đầu năm nay, Ngân hàng CSXH đã cho 52 LĐ vay vốn đi XKLĐ, với tổng số tiền 996 triệu đồng. Tuy vậy, mức vay này là tương đối thấp, người lao động nghèo khó có điều kiện tiếp cận với thị trường lao động có thu nhập cao...
Vì sao mặc dù số lượng lao động khá dồi dào, nhưng XKLĐ của Quảng Ninh thấp hơn so với bình quân chung của cả nước? Tại hội thảo về công tác XKLĐ trên địa bàn tỉnh vừa qua đã chỉ ra một số nguyên nhân. Đó là do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, thị trường lao động ngoài nước nói chung bị thu hẹp, các doanh nghiệp đều phải rất cẩn trọng khi triển khai các hợp đồng mới; một số lao động phải về nước trước hạn do thiếu việc làm, lương thấp, tai nạn rủi ro... đã tác động đến tâm lý người lao động vốn đã e ngại, lo lắng về hậu quả xấu do XKLĐ. Do đặc thù của Quảng Ninh, người lao động tương đối dễ tìm được việc làm, nên một bộ phận lao động muốn tham gia xuất khẩu nhưng lại đòi hỏi với mức lương cao và ổn định. Đối với lao động ở các vùng sâu, vùng xa kinh tế khó khăn, lao động muốn tham gia xuất khẩu để xoá đói, giảm nghèo thì trình độ hiểu biết về ngoại ngữ, kiến thức pháp luật và chuyên môn lại rất hạn chế. Một số doanh nghiệp sau khi được Sở LĐ-TB&XH giới thiệu không tổ chức tuyển chọn hoặc hoạt động không hiệu quả, không tích cực và không tuyển được lao động. Có doanh nghiệp khi xảy ra những bất đồng trong quá trình tuyển chọn không kịp thời phối hợp để giải quyết, gây mất lòng tin ở người lao động; khi người lao động gặp rủi ro, chưa kịp thời phối hợp với đại diện hoặc đối tác nước ngoài để đảm bảo quyền lợi cho người lao động; người lao động về nước trước hạn không được hướng dẫn và thanh lý hợp đồng kịp thời... Một số doanh nghiệp chưa thực hiện tốt chế độ thông tin báo cáo theo quy định, hiệu quả tuyên truyền còn hạn chế, chưa tạo được lòng tin và xây dựng được uy tín của doanh nghiệp tại địa phương. Công tác tuyên truyền về XKLĐ còn hạn chế, chưa thường xuyên và chưa có hình thức phù hợp, chưa tác động tích cực đến nhận thức của người lao động. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp, công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý hoạt động của các doanh nghiệp có hoạt động XKLĐ đã được cấp phép chưa được thường xuyên. Chưa có các giải pháp đồng bộ và đủ mạnh để đạt được mục tiêu đề ra. Lực lượng cán bộ làm công tác lao động việc làm, trong đó có công tác XKLĐ tại các địa phương chưa được quan tâm.
Thời gian qua, số lao động trong tỉnh đăng ký đi XKLĐ chủ yếu là nông dân, trong đó số không có nghề chiếm tỷ lệ khá cao. Hiện ở các vùng nông thôn, lực lượng lao động tốt nghiệp phổ thông chưa có việc làm còn khá nhiều. Đây chính là nguồn lao động dồi dào cho các doanh nghiệp XKLĐ.
Chủ trương XKLĐ vừa là giải pháp giải quyết việc làm, phát triển kinh tế, vừa là cơ hội hội nhập thị trường lao động quốc tế, nâng cao trình độ và xây dựng tác phong làm việc khoa học cho lao động, trong thời gian tới cần tăng cường lao động xuất khẩu cả về số và chất lượng. Bên cạnh khắc phục những tồn tại trên, mở rộng thị trường, đa dạng hoá các hình thức XKLĐ là yêu cầu tất yếu hiện nay.