Cần quản lý chặt chất lượng xây dựng

Bằng “bí quyết giá rẻ”, các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu rất hoành tráng và “ồ ạt” góp mặt ở khắp các công trình trọng điểm kinh tế của Việt Nam.

Theo tổng hợp sơ bộ tình hình hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc của Bộ Công Thương hồi tháng 7-2009 thì có tới 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang tham gia làm tổng thầu EPC (bao gồm cả tư vấn, thiết kế - cung cấp thiết bị - xây lắp, vận hành) hoặc là đối tác đầu tư cho 41 dự án ở Việt Nam. Năm 2009, trong số 4,15 tỷ USD máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam, có tới 70% là nhập để phục vụ các dự án mà Trung Quốc làm tổng thầu.

Cần quản lý chặt chất lượng xây dựng ảnh 1
Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả II, đang được nhà thầu đẩy nhanh tiến độ để bù tiến độ đã bị chậm trong thời gian qua.

Đặc biệt đối với các Dự án Nhiệt điện đốt than trong Quy hoạch VI (Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến năm 2025) có tới khoảng 90% do các nhà thầu Trung Quốc đảm nhiệm. Và tại Quảng Ninh trong tổng số 12 dự án đang triển khai thì cũng có 7 dự án có sự góp mặt của nhà thầu Trung Quốc. Nguyên nhân khiến các nhà thầu Trung Quốc thắng thầu ở hầu hết các dự án chính là do giá của họ rẻ khiến các doanh nghiệp trong nước không thể cạnh tranh nổi. Khi mở thầu các dự án điện, giá thầu của các nhà đầu tư Trung Quốc quá hấp dẫn. Nếu một nước trong nhóm G7 bỏ thầu với suất đầu tư hơn 2.000 USD/KWh thì ở dự án của Trung Quốc chỉ khoảng 1.000 USD/KWh. Tuy nhiên, vấn đề quan ngại nhất ở đây đó chính là khi các đối tác Trung Quốc trúng thầu thì 100% nhân lực, vật lực và thiết bị máy móc “nhập khẩu”. Vô hình trung, đã tạo công ăn việc làm và GDP cho nước bạn và làm gia tăng tỷ lệ nhập siêu. Nỗi lo không dừng lại ở đó, Luật Đấu thầu hiện hành không yêu cầu về xuất xứ thiết bị, khiến chính chủ đầu tư Việt Nam cũng khó lòng kiểm soát nổi vấn đề chất lượng thiết bị.

Chưa kể, theo rà soát của Bộ Công Thương và Sở Công thương, tình trạng nhà thầu Trung Quốc thi công tiến độ chậm đối với các dự án trên là phổ biến, trong khi chất lượng thiết bị, công nghệ vẫn rất cách biệt so với các nước G7. Có thể kể đến các Nhà máy của Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh. Ngày 12-5 tổ máy số 1, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh I bắt đầu phát điện lên lưới nhưng chỉ hơn hai tháng vận hành chính thức thì gặp sự cố, chưa có khả năng hoà lưới điện quốc gia. Theo thống kê của chủ đầu tư, có tới 17 sự cố của tổ máy này cần khắc phục, dẫn đến việc tổ máy nằm “đắp chiếu”. Riêng tổ máy số 2 bắt đầu hoà lưới điện quốc gia từ ngày 2-6 nhưng phải dừng vận hành 5 lần do sự cố. Đến nay, tổ máy này mới phát lên lưới khoảng 50 triệu KWh. Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh II mới chỉ đạt 31% khối lượng công việc, phải dừng thi công từ tháng 11-2009 đến nay. Theo đúng tiến độ, tổ máy số 3 của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh II phải phát điện vào tháng 2-2010 và tổ máy số 4 dự kiến tháng 7-2010. Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh (chủ đầu tư) đã xác định rằng, Tập đoàn Điện khí Thượng Hải hoàn thành các phần việc không đúng tiến độ, mới vận hành thử và chạy tin cậy đã xuất hiện nhiều sự cố, công tác sửa chữa của nhà thầu chậm chạp do không có sẵn vật tư, thiết bị thay thế đặt hàng từ Trung Quốc gửi sang chậm. Nhà thầu này cũng không đủ nhân lực, chủ đầu tư phải hỗ trợ cả nhân lực cho nhà thầu. Đối với Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả I dự kiến sẽ đưa vào vận hành thương mại vào tháng 1-2010 cung cấp lượng điện năng khoảng 1,8 tỉ KWh mỗi năm. Dự án do Công ty TNHH Công trình điện Cáp Nhĩ Tân (Trung Quốc) đảm nhận thi công theo hình thức hợp đồng EPC cho các chủ đầu tư là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tổng Công ty Xây dựng Công nghiệp Việt Nam và các đơn vị thành viên thuộc ngành Than trên địa bàn Cẩm Phả. Dự án gồm 2 Nhà máy với tổng công suất 600MW. Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả I khởi công xây dựng vào tháng 4-2006 và Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả II được khởi công tháng 12-2007, đều có công suất 300MW. Đến thời điểm hiện tại, Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả I tiến độ xây dựng chậm ít nhất 9 tháng so với kế hoạch.

Cần quản lý chặt chất lượng xây dựng ảnh 2
Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh do nhà thầu Tập đoàn Điện khí Thượng Hải (Trung Quốc) đảm nhiệm, mọi phần việc vẫn đang ngổn ngang.

Sự chậm trễ của các dự án do các nhà thầu Trung Quốc thi công,  không chỉ làm tăng thêm áp lực thiếu điện mà chủ đầu tư Việt Nam còn phải tốn một khoản chi phí không nhỏ trả cho các chuyên gia nước ngoài “kéo sang” đông đảo để sửa chữa. Thêm nữa, chưa thể tính được tuổi thọ của các dự án là bao nhiêu và nếu như chỉ vài năm nữa xảy ra sự cố hỏng hóc, thì chi phí phải bỏ ra để bảo trì có khi còn vượt quá mức chênh lệch thầu của các nước tiên tiến. Trong khi, các nước G7 làm, doanh nghiệp Việt Nam vừa được làm thầu phụ, ví dụ như nhiệt điện Phả Lại II thuê nhà thầu Việt Nam là Coma, Lilama… sản xuất các sản phẩm cơ khí phi tiêu chuẩn và lò hơi. Với dự án nhiệt điện Phú Mỹ, nhà thầu Mitsubishi cũng thuê Coma chế tạo toàn bộ thiết bị cơ khí, kết cấu thép, các bồn bể lớn; thuê Lilama lắp đặt.

Trong Quy chế quản lý hoạt động của nhà thầu nước ngoài trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam (ban hành kèm theo Quyết định số 87/2004/QĐ-TTg ngày 19-5-2004 của Thủ tướng Chính phủ) đã quy định: “Trong mọi trường hợp được giao thầu (do thắng thầu thông qua đấu thầu hoặc được chọn thầu) nhà thầu nước ngoài phải liên danh với nhà thầu Việt Nam hoặc phải sử dụng nhà thầu phụ Việt Nam” và nhà thầu nước ngoài “Chỉ đăng ký đưa vào Việt Nam những chuyên gia quản lý kinh tế, kỹ thuật và người có tay nghề cao mà Việt Nam không đủ khả năng đáp ứng”. Thêm vào đó, điều 12 của Luật Đấu thầu nhấn mạnh: “Sử dụng lao động nước ngoài khi lao động trong nước có đủ khả năng thực hiện và đáp ứng yêu cầu thực hiện gói thầu” thuộc vào nhóm các hành vi bị cấm. Tuy vậy, những quy định này vẫn không được tuân thủ, bằng chứng là sự có mặt của lao động phổ thông Trung Quốc trên hàng loạt công trường trong nước và ngay cả trên địa bàn tỉnh.

Thực trạng nêu trên là bài toán cần có ngay lời giải. Tuy nhiên trước khi tìm ra lời giải, các cơ quan quản lý Nhà nước cần tích cực tăng cường và siết chặt công tác quản lý đối với các nhà thầu nói chung và nhà thầu Trung Quốc nói riêng, theo tôn chỉ: Đảm bảo tiến độ thi công công trình, đảm bảo chất lượng và tuân thủ đúng Luật pháp Việt Nam hiện hành.

Cùng chuyên mục