Theo thống kê của Sở LĐTB&XH, dân số trong độ tuổi lao động của Quảng Ninh hiện nay khoảng 730 ngàn người, chiếm hơn 76% dân số. Trong đó, số lao động tham gia các ngành kinh tế là hơn 620 ngàn người. Tính từ năm 2001 tới nay, tỷ lệ lao động của tỉnh tăng trung bình 1,55%/năm. Cũng như cả nước, lực lượng lao động trẻ, hùng hậu, cần cù, khéo léo luôn được xem là thế mạnh của nguồn nhân lực Quảng Ninh. Mặc dù vậy, từ trước tới nay, nguồn nhân lực này chưa được coi là lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư trên địa bàn.
Lao động của công ty Vina NewTarp (KCN Cái Lân) không mặc bảo hộ trong ca sản xuất.
Bên cạnh những hạn chế về trình độ, năng lực hành nghề, lực lượng lao động của Quảng Ninh còn hạn chế về ý thức và tác phong công nghiệp. Vốn xuất thân từ nông thôn và chưa qua đào tạo nghề nên phần đông lao động đang tham gia hoạt động kinh tế của Quảng Ninh có ý thức kỷ luật rất kém, đặc biệt là lực lượng lao động phổ thông. Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phản ánh: Nhiều lao động không tuân thủ nội quy nơi làm việc, thường đi muộn, về sớm, ngủ trong giờ làm việc... Thậm chí có lao động còn không tuân thủ cả những quy định an toàn trong lao động nên đã gây ra những tai nạn rất đáng tiếc. Chị Bùi Thị Giang, cán bộ Phòng nhân lực Công ty TNHH Vina New Tarp (Khu CN Cái Lân) cho biết: “Công ty chúng tôi đã có những quy định rất rõ ràng, cụ thể trong lao động nhưng nhiều công nhân đã không tuân thủ, dẫn đến những hậu quả rất đáng tiếc như: Hỏng hàng trăm triệu tiền hàng, tai nạn bỏng, sứt tay chân...”. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của lao động Quảng Ninh thì có nhiều nhưng nguyên nhân chính bắt nguồn từ những hạn chế trong công tác đào tạo nghề. Thực tế cho thấy mạng lưới các trường đào tạo nghề trong tỉnh còn nhiều bất cập, trang thiết bị thực hành không đuổi kịp thực tế. Lao động được đào tạo có tay nghề cao, đáp ứng được đòi hỏi của công nghệ mới còn ít. Chỉ một số trường có tiềm lực mạnh mới đầu tư, đưa các công nghệ mới vào giảng dạy. Số này cũng không nhiều và lực lượng công nhân được đào tạo một cách hiện đại cũng hạn chế. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo nghề cũng chưa chú trọng đến việc rèn luyện, giáo dục ý thức, kỷ luật lao động cho học viên.
Thấy được vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong cạnh tranh, thu hút đầu tư, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập toàn cầu khi Việt Nam gia nhập WTO, các cơ quan quản lý Nhà nước về lao động trong tỉnh đã và đang tìm những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ngày 15-8-2005, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2872/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch phát triển nguồn lao động Quảng Ninh thời kỳ 2005-2010 và định hướng tới năm 2020. Trong đó có đề ra nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng lao động, đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Mới đây nhất, Sở LĐTB&XH cũng xây dựng đề án phát triển thị trường lao động Quảng Ninh đến năm 2010 với mục tiêu nâng cao chất lượng cung-cầu lao động; phát triển các giao dịch trên thị trường lao động và hoàn thiện các chính sách, thể chế về thị trường lao động nhằm phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực cho phát triển. Hiện đề án đang được trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt. Ngoài ra, từ năm 2005 đến nay, Quảng Ninh cũng đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm nâng cao chất lượng lao động ở khu vực này. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh cũng từng bước nâng cao năng lực hoạt động, đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên cho công tác đào tạo nghề. Đặc biệt, Chính phủ cũng đã đồng ý chủ trương cho Trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm đầu tư, nâng cấp và xây dựng thành Trường Đại học Hạ Long. Tỉnh cũng có các chính sách ưu tiên về đất đai, thủ tục... cho việc thành lập các cơ sở đào tạo nghề dân lập. Tuy nhiên, những giải pháp này mới bắt đầu được thực hiện và hiệu quả còn hạn chế. Chính vì thế, để nâng cao chất lượng lao động hơn nữa, tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển kinh tế thì tỉnh và các cơ quan chức năng cần xây dựng quy hoạch đào tạo nghề đón đầu được sự phát triển; có chính sách ưu tiên đặc biệt để khuyến khích mở thêm nhiều trường dạy nghề mới. Đồng thời, mở các lớp học ngắn hạn để đào tạo cho người lao động có nghề nghiệp trước khi bước vào làm việc ở các doanh nghiệp. Tăng cường mở rộng các lớp đào tạo nghề cho thanh niên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Các doanh nghiệp cũng cần tạo điều kiện để người lao động được học tập (chẳng hạn như hỗ trợ tiền học phí, đào tạo...)