Có thể thấy, với việc tận dụng thế mạnh các vùng bãi triều và tiềm năng biển, ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản của Quảng Ninh trong những năm qua bước đầu có xu hướng phát triển tích cực, tạo thêm giá trị gia tăng, giải quyết việc làm cho người lao động.
Từ nguồn nguyên liệu dồi dào Với lợi thế bờ biển dài 250km, 43.093ha rừng ngập mặn, trong đó có trên 26.000ha có khả năng nuôi trồng thuỷ sản; gần 9.000ha bãi cao triều và trên cao triều phát triển nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh; trên 21.000ha diện tích bãi nuôi phân bố dọc theo bờ biển từ huyện Yên Hưng đến TP Móng Cái, đây là cơ sở cần thiết cho ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản của tỉnh ta phát triển. Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có khoảng 30.000 ngư dân hoạt động nghề cá; 14 trại sản xuất giống, trong đó có 9 trại sản xuất tôm giống, 5 trại sản xuất giống nhuyễn thể. Hầu hết các đối tượng thuỷ sản có giá trị kinh tế đã được đưa vào nuôi trồng ngày càng nhiều, mùa vụ nuôi cũng đã có sự thay đổi tích cực như: Tu hài; hàu Thái Bình Dương; trai cấy ngọc; tôm… Trung bình hàng năm sản lượng thuỷ sản toàn tỉnh đạt gần 70.000 tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 17,6 triệu USD. Một trong những vùng trọng điểm nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản là huyện đảo Vân Đồn. Với việc xác định, phát triển nghề thuỷ sản là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, trong những năm qua, huyện Vân Đồn đã tập trung vào các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biến, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề theo hướng phát triển khai thác, đánh bắt cá tuyến khơi, mở rộng diện tích nuôi trồng các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao, tăng cường đầu tư về số lượng và chất lượng tàu thuyền, các phương tiện đánh bắt theo chương trình đánh bắt xa bờ. Mặt khác, không ngừng hiện đại hoá trang thiết bị nghề cá và kỹ thuật sơ chế sản phẩm cho lực lượng đánh bắt xa bờ. Nếu như năm 2002, toàn huyện chỉ có 837 phương tiện đánh bắt với tổng công suất là 27.220CV thì đến nay đã lên tới khoảng trên 1.000 phương tiện hoạt động trong lĩnh vực khai thác thuỷ sản. Vì vậy, sản lượng khai thác thuỷ sản năm sau cao hơn năm trước. Năm 2009, tổng sản lượng khai thác thuỷ sản của Vân Đồn đạt 14.250 tấn, tăng 14% so với năm 2008 (12.500 tấn). Tổng giá trị ngành thuỷ sản của huyện năm 2009 ước đạt 342 tỷ đồng, thì năm 2010 tổng sản lượng khai thác thuỷ sản đạt khoảng trên 20.000 tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm 2009. Ngoài huyện Vân Đồn, huyện Yên Hưng cũng là một trong những địa phương phát triển mạnh đối với lĩnh vực này. Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp huyện, trên địa bàn huyện hiện có 7.218ha nuôi trồng thuỷ sản, trong đó nuôi nước mặn, nước lợ 6.333ha, nuôi nước ngọt 885ha. Phương pháp nuôi chủ yếu vẫn là quảng canh. Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2010 toàn huyện đạt gần 16.500 tấn, đạt 103% kế hoạch và bằng 106,2% cùng kỳ. Kết quả bước đầu và giải pháp phát triển bền vững Từ nguồn nguyên liệu dồi dào đã tạo đà cho ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản của tỉnh. Toàn tỉnh hiện có gần 1.000 cơ sở chế biến nông - lâm - thuỷ sản, thu hút khoảng 25.000 lao động. Trong đó, với trên gần 1.000 cơ sở chế biến thuỷ sản lớn nhỏ, có 5 nhà máy đông lạnh công suất 118.674 tấn; trên 100 cơ sở chế biến nước mắm… Trong giai đoạn 2006-2010, giá trị công nghiệp chế biến thuỷ sản tăng trưởng bình quân 11,73%, chiếm tỷ trọng khoảng 10% trong giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Tuy nhiên, theo các ngành hữu quan, công nghiệp chế biến và xuất khẩu thuỷ sản của tỉnh vẫn dừng ở một trình độ nhất định và sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn nguyên liệu của địa phương. Xuất khẩu thuỷ sản tăng trưởng chậm; sản phẩm chủ yếu xuất ở dạng thô; nhiều sản phẩm làm ra giá thành còn cao, sức cạnh tranh thấp; các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản chưa phát triển... Những tồn tại nêu trên có nguyên nhân khách quan như thị trường tiêu thụ nông thuỷ sản thế giới biến động do khủng khoảng và suy thoái kinh tế. Công tác đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp, chợ đầu mối thuỷ sản của địa phương không đạt kế hoạch đề ra. Một số khó khăn của doanh nghiệp như vấn đề xử lý môi trường, nhà ở công nhân, đào tạo nghề cho người lao động giải quyết chậm; vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại, xây dựng và phát triển thương hiệu còn hạn chế... Với mục tiêu phấn đấu tốc độ tăng trưởng công nghiệp chế biến thuỷ sản bình quân đạt 16-17%/năm; coi trọng thị trường trong nước, phát triển thị trường nước ngoài để đưa kim ngạch xuất khẩu đạt gấp 5 lần vào năm 2015. Theo đó, yêu cầu phát triển công nghiệp chế biến thuỷ sản theo hướng nâng cao giá trị, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường tiêu thụ, vượt qua các rào cản kỹ thuật, đứng vững ở thị trường nước ngoài.
Để thực hiện được mục tiêu, tỉnh cần tập trung tháo gỡ các khó khăn, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung để kêu gọi nhà đầu tư, doanh nghiệp vào đầu tư phát triển công nghiệp chế biến; tiếp tục chỉ đạo phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại; xây dựng và phát triển vùng sản xuất nguyên liệu tập trung, chất lượng cao; thực hiện tốt hơn mối liên kết giữa sản xuất, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, các ban ngành hữu quan của tỉnh cần tiếp tục chỉ đạo thực hiện hợp đồng bao tiêu đối với các doanh nghiệp. Chỉ đạo liên kết giữa người khai thác, người nuôi trồng thuỷ sản với doanh nghiệp chế biến để có nguồn nguyên liệu ổn định, có chất lượng; sản phẩm làm ra có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, đáp ứng được các quy định của thị trường tiêu thụ trong hội nhập...