- Xin đồng chí cho biết các loại bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và lùn sọc đen có những điểm giống và khác nhau như thế nào? (Đồng chí Đào Văn Ngọc, Phó chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, trả lời phỏng vấn Báo Quảng Ninh).
Những điểm khác nhau điển hình như sau: Bệnh vàng lùn thì lá chuyển màu vàng nhạt, vàng cam và khô. Lá vàng từ chóp lá và 2 bên mép lá đi vào, góc lá đứng hơn so với bình thường. Khi bị nặng làm cho cả bụi lúa chết lụi. Còn đối với bệnh lùn sọc đen và bệnh lùn xoắn lá thì mép lá bị rách, xoắn đầu lá, lá và thân có màu xanh đậm. Riêng với lùn sọc đen thì có triệu chứng đặc trưng là trên thân có các u sáp sần màu trắng hoặc đen chạy dọc gân ở mặt sau lá và các đốt thân. - Vậy đồng chí nói rõ hơn về tác nhân gây bệnh cũng như môi giới truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và lùn sọc đen? + Vi rút vàng lùn và vi rút lùn xoắn lá chỉ gây hại trên lúa, do rầy nâu làm môi giới. Vi rút lùn sọc đen ngoài lúa còn phát sinh gây hại trên cây ngô, do rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ làm môi giới. Đáng chú ý các loại bệnh này có quan hệ truyền bệnh với rầy. Cụ thể, bệnh không truyền qua trứng rầy. Sau khi rầy chích hút trên cây lúa, vi rút tồn tại trong cơ thể rầy cho đến khi chết. Rầy non và rầy trưởng thành đều truyền bệnh, đáng chú ý là rầy non sau khi lột xác không mất đi khả năng truyền bệnh. Như vậy, quan hệ giữa rầy môi giới và bệnh theo kiểu “bền vững”. Mỗi cá thể rầy trưởng thành có thể truyền được bệnh cho 5,5 cây lúa (cao nhất 13 cây). Cây lúa càng non càng dễ nhiễm bệnh. Cây lúa 10 ngày tuổi bị rầy truyền bệnh có thời gian ủ bệnh từ 7-14 ngày. Cây lúa 20-25 ngày tuổi bị rầy truyền bệnh thì 20-25 ngày sau sẽ biểu hiện triệu chứng bệnh. Cây lúa trên 55 ngày tuổi bị rầy truyền bệnh thường có triệu chứng ẩn, hoặc chỉ biểu hiện bệnh trên cây lúa chét. Như vậy, cây lúa càng già thì ít mẫn cảm với bệnh. - Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh đã hướng dẫn bà con nông dân cách phòng trừ như thế nào thưa đồng chí? + Thứ nhất, về biện pháp kỹ thuật chăm sóc: Làm đất ruộng cấy kỹ để cây lúa phục hồi nhanh sau khi cấy. Bón phân cân đối, tăng cường lượng phân hữu cơ, lân và kali; tập trung bón lót. Mỗi héc ta bón lót từ 400-500kg vôi bột. Khi ruộng có biểu hiện bệnh tuyệt đối không sử dụng phân đạm để bón thúc. Chú ý sử dụng các loại phân hữu cơ sinh học để tăng dinh dưỡng cho cây. Bà con nông dân cần phải thường xuyên thăm đồng để phát hiện cây lúa bị nhiễm bệnh. Thứ hai, đối với những diện tích lúa bị nhiễm bệnh nặng (trên 30% số khóm, cây bị bệnh) thì phải tiêu huỷ toàn bộ ruộng bằng cày vùi sâu, trước khi cày vùi phải phun thuốc trừ rầy triệt để tránh phát tán vi rút lan ra diện rộng. Dọn sạch cỏ dại quanh bờ và vệ sinh đồng ruộng mương, máng. Đối với diện tích lúa có tỷ lệ bệnh dưới 30% khóm bị bệnh phải nhổ bỏ, tập trung cây lúa bệnh tiêu huỷ bằng đốt hoặc chôn vùi sâu sau đó phun thuốc trừ rầy và tiếp tục chăm sóc để tạo điều kiện cho những cây không bị bệnh sinh trưởng, phát triển tốt. Cần khẳng định rằng, để hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do loại dịch bệnh này gây ra cũng như khả năng lây lan diện rộng, các địa phương cũng như bà con nông dân phải chủ động, tích cực hơn song quan trọng phải kết hợp với việc thực hiện đúng các quy trình, kỹ thuật mới mong hạn chế được. - Đề nghị đồng chí nói rõ hơn về loại thuốc trừ rầy cũng như cách pha thuốc và phun thuốc như thế nào cho hiệu quả? + Về thuốc trừ rầy có 2 loại gồm thuốc nội hấp và thuốc tiếp xúc. Thuốc nội hấp thuộc nhóm Neonicotinoid với hoạt chất Thiamethoxan (trong đó có thuốc thương phẩm Actara 25 WG, Chess 50 WG...). Loại này có hiệu quả trừ rầy non, rầy trưởng thành và có thể bảo vệ cây lúa non 5 ngày sau khi phun thuốc. Đặc tính sau khi phun lên lá, thuốc sẽ được hấp thụ vào trong dịch cây và khi rầy trích hút vào thân cây lúa sẽ bị chết. Thuốc này tuy có thời gian hiệu lực dài tuy nhiên ở giai đoạn này số lá ít nên khả năng nội hấp thuốc của cây lúa không cao. Thuốc tiếp xúc, nhóm Carbamat, trong đó có thuốc thương phẩm Bassa 50EC có hiệu quả trừ cả rầy non và rầy trưởng thành. Hoạt chất Buprofezin (trong đó có thuốc thương phẩm Butyl 10WP...) có hiệu quả trừ rầy non cao nhưng hiệu quả trừ rầy thưởng thành thấp. Về cách pha, với thuốc Actara 25 WG phun 02 gam/sào (360m2), 56 gam/ha. Lượng nước thuốc phun 360-400 lít/ha. Với thuốc Chess 50WG phun 11 gam/sào (360m2), 300 gam/ha. Lượng nước thuốc phun 360-400 lít/ha. Với thuốc Bassa 50EC lượng dùng 0,65ml/sào (360m2), 1,8 lít/ha. Lượng nước thuốc phun 500-560 lít/ha. Cho nước vào bình, cho thuốc vào khuấy đều rồi đổ tiếp lượng nước cho đủ, lắc đều. Cách phun: Sử dụng bình bơm động cơ, bình tay đeo vai phun rải đều nước thuốc trên ruộng; phun bao xung quanh trước rồi thu dần vào trong để hạn chế sự phát tán của rầy mang vi rút.
+ Điểm giống của 3 loại dịch bệnh này là cây đều còi cọc, thấp lùn, xoắn lá và có u sưng trên lá, bộ rễ kém phát triển. Khi bị bệnh sớm cây thấp lùn, cây lúa không trỗ bông được. Trường hợp bệnh nặng lúa không trỗ bông được, có trỗ bông được thì bị nghẹn đòng và hạt lép.
Thứ ba, phòng trừ rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ trong vùng có ổ dịch bằng cách thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện và phun trừ rầy kịp thời. Nếu phát hiện có rầy xuất hiện phải phun trừ ngay bằng các loại thuốc trừ rầy đặc hiệu.
- Xin cảm ơn đồng chí!