Cô Tô: Hướng đi đúng cho ngành kinh tế mũi nhọn

Từ lợi thế về tự nhiên thuận lợi cho cả khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, những năm qua, huyện Cô Tô luôn chú trọng đầu tư phát triển kinh tế thuỷ sản, coi đây là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Đây là một cách làm không mới, nhưng lại là bước đi vững chắc, thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. 

Theo Phòng Tài nguyên - Môi trường và Nông nghiệp huyện Cô Tô, tính từ đầu năm đến nay, sản lượng thuỷ sản trên địa bàn huyện đạt trên 16.830 tấn, trong đó cá 820 tấn, tôm 30 tấn, mực 130 tấn, hải sản khác 15.905 tấn, đạt 420% kế hoạch năm, trong đó sản lượng sứa 14.880 tấn. Đặc biệt, vụ sứa năm nay kéo dài hơn mọi năm đã đem lại nguồn thu lớn cho bà con ngư dân từ nghề khai thác và chế biến sứa. Hiện nay, trên địa bàn huyện có 30 cơ sở thu mua và chế biến sứa. Sản lượng sứa thành phẩm đạt 210.000 thùng, giá trị đạt trên 63 tỷ đồng. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như ngư trường rộng, trữ lượng thuỷ sản lớn, phong phú về chủng loại với nhiều loại thuỷ sản quý hiếm là những lợi thế để Cô Tô phát triển kinh tế thuỷ sản.

Cô Tô: Hướng đi đúng cho ngành kinh tế mũi nhọn ảnh 1
Thuỷ sản khai thác được bán tại chợ Cô Tô.
                                             Ảnh: Thu Trang

Do tính chất đặc thù, việc đánh bắt thuỷ sản đòi hỏi phải được đầu tư lớn, với mức bình quân hàng tỷ đồng cho một phương tiện, vì thế trong nhiều năm trước, việc khai thác thuỷ sản của địa phương vẫn mang tính thủ công, sản lượng thấp. Từ thực tế đó, chính quyền địa phương đã quan tâm đầu tư đúng mức, có trọng điểm vào các dự án nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt xa bờ. Đồng thời vận động, khuyến khích ngư dân vay vốn từ các nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước để đóng mới tàu thuyền, mua sắm thêm ngư cụ vươn ra khai thác xa bờ và chú trọng khai thác hải sản theo mùa vụ. Đến nay, trên địa bàn huyện đã có 570 tàu đánh bắt thuỷ sản với tổng công suất 11.014CV và trên 290 phương tiện bè, mủng khác. Vì vậy sản lượng thuỷ sản khai thác hàng năm liên tục tăng. Cùng với khai thác tự nhiên, huyện còn khuyến khích ngư dân phát triển nuôi trồng các loại hải sản có giá trị kinh tế cao như: Cá song, giò, hồng mỹ, tôm hùm, hải sâm, nhuyễn thể... Để các mô hình nuôi trồng hải sản của người dân đạt hiệu quả cao, bên cạnh việc giao diện tích bãi triều đến người dân, tạo điều kiện vay vốn ưu đãi đầu tư ô lồng, con giống, thức ăn... các phòng chức năng của huyện tổ chức tập huấn về nuôi trồng thuỷ sản nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng nuôi trồng thuỷ sản cho người dân; tổ chức đi tham quan, học tập mô hình nuôi thuỷ hải sản theo công nghệ tiên tiến. Chính từ cách làm này mà nhiều mô hình nuôi trồng thuỷ hải sản đạt hiệu quả, mang lại thu nhập khá ổn định cho ngư dân. Hiện nay, toàn huyện có trên 30 mô hình nuôi cá lồng bè trên biển với các loại có giá trị kinh tế cao như: Cá song, chấm lang, cá hồng, cá giò... Nhiều hộ gia đình còn nuôi tôm càng xanh, tôm hùm, ốc hương, tu hài, bào ngư... cho hiệu quả kinh tế rõ rệt. Tính đến tháng 5, toàn huyện đã thả trên 9.000 cá giống và gần 20 tấn giống nhuyễn thể các loại.

Ngay từ Đại hội Đảng bộ huyện Cô Tô lần thứ I (1996), đã xác định cần phải tranh thủ mọi nguồn vốn để “tập trung khai thác nghề cá”. Từ định hướng có tính chiến lược đó, Đảng bộ, chính quyền huyện đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành khảo sát, đánh giá một cách tổng quát các loại thuỷ sản trong khu vực, để từ đó vạch ra hướng đi hợp lý cho việc khai thác, nuôi trồng, chế biến, bảo vệ nguồn lợi và môi trường sinh thái biển. Đối với khai thác gần bờ, huyện chủ trương phát triển đội tàu có công suất từ 33-135CV, khuyến khích khai thác cá đáy, hạn chế khai thác cá nổi, hướng tới giảm sản lượng khai thác gần bờ từ 90% xuống còn 60% đến 2010. Đối với khai thác tuyến khơi, tập trung khai thác cá nổi di cư, cá nổi đại dương, cá đáy ở độ sâu 30-100m và các loại hải sản có giá trị xuất khẩu cao ở vùng nước sâu từ 30m trở xuống, như mực ống, tôm hùm, cá song... Nhất là có chính sách tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn để sửa chữa nâng cấp và đóng mới các phương tiện hiện đại có thể vươn ra vùng biển xa hơn.

Một trong những giải pháp mang tính quyết định, là huyện chủ trương thu hút các nguồn vốn đầu tư, xây dựng các trung tâm dịch vụ nghề cá tại địa phương. Trước mắt đầu tư đồng bộ vào trung tâm dịch vụ nghề cá ở xã Thanh Lân, trên cơ sở những điều kiện hiện có (cảng, chợ cá Chiến Thắng) tiếp tục đầu tư thêm các hạng mục cơ sở thu mua, chế biến đông lạnh, sản xuất ngư lưới cụ, đóng mới sửa chữa tàu thuyền. Dự án Trung tâm Dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc Vịnh Bắc Bộ được triển khai xây dựng tại Cô Tô từ năm 2008. Dự án ban đầu có tổng mức đầu tư 372,716 tỷ đồng sau được điều chỉnh lên 466,730 tỷ đồng, gồm các hạng mục công trình chính: Đê chắn sóng dài 900m kết hợp bến cập tàu công suất 600CV; khu dịch vụ trên bờ có diện tích 17,1ha có bến cập tàu dài 300m cho các loại tàu có công suất đến 600CV; nhà điều hành, chợ đầu mối 2 tầng, diện tích sàn mỗi tầng trên 2.000m2; khu đóng mới và sửa chữa tàu thuyền và các công trình phụ trợ khác... Đây là điều kiện thuận lợi để ngành Thuỷ sản Cô Tô có điều kiện phát triển nhảy vọt.

Nhìn một cách tổng thể, những kết quả về kinh tế mà huyện Cô Tô đạt được trong những năm gần đây mới chỉ là bước phát triển khởi đầu. Hiện tại, hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tuy đã được quan tâm đầu tư, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác tối đa thế mạnh của địa phương. Mặc dù thuỷ sản là ngành kinh tế chủ đạo, mũi nhọn, song việc đầu tư trang thiết bị kỹ thuật đánh bắt cũng như chế biến vẫn còn hạn chế, chưa có đội tàu đủ mạnh để vươn ra khai thác xa hơn, ngư dân vẫn nặng về khai thác tự nhiên. Nghề nuôi trồng thuỷ sản tuy đã được quan tâm đầu tư song vẫn còn manh mún. Với điều kiện tự nhiên nhiều thuận lợi, sự đầu tư đúng hướng của nhà nước, địa phương, trong một tương lai không xa, ngành Thuỷ sản Cô Tô sẽ có bước phát triển mới, tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương.

Cùng chuyên mục