Công nghiệp chế biến thủy sản: Bao giờ mới có sự bứt phá?

Trong những năm gần đây, ngành Thuỷ sản tỉnh ta đang có bước phát triển khá mạnh mẽ, diện tích, năng suất, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đều tăng. Lẽ ra với những lợi thế này thì hoạt động chế biến thuỷ sản xuất khẩu phải rất sôi động, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách. Thế nhưng, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này ngày càng trì trệ và có xu hướng đi xuống.

Nguồn nguyên liệu không ổn định

Tìm được nguồn cung ổn định, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng đối với các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu hiện đang là bài toán khó. Trên địa bàn tỉnh mới chỉ có 3 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu thuỷ sản nhưng các đơn vị này vẫn đang phải tìm nguồn cung trong tình trạng ‘’giật gấu vá vai”. Mặc dù những năm qua, ngành Thuỷ sản đã tạo được sự bứt phá mạnh mẽ về diện tích nuôi trên cả 3 loại hình (ngọt, lợ và nuôi biển), tăng nhanh sản lượng, đa dạng các loại nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá. Từ 13.000 ha nuôi năm 2000 đến năm 2007 diện tích nuôi đã tăng lên 17.000 ha; trong đó có 1.300 ha nuôi tôm. Sản lượng nuôi trồng năm 2000 đạt 5.500 tấn, 9 tháng đầu năm 2008 đạt 16.101 tấn. Đặc biệt, vài năm gần đây nuôi cá nước ngọt đã phát triển mạnh trên toàn tỉnh, nhất là ở các vùng chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều mô hình nuôi cho năng suất gần 20 tấn/ha/vụ, thu lãi hàng trăm triệu đồng, giá trị thu nhập tăng gấp hàng chục lần so với canh tác lúa truyền thống. Đến nay toàn tỉnh đã chuyển đổi được hơn 500 ha đất canh tác lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản; đã quy hoạch được vùng nuôi cá nước ngọt ở Đông Triều, Uông Bí, Yên Hưng; nuôi thuỷ sản nước lợ tập trung chủ yếu ở Yên Hưng, Hoành Bồ, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà, Móng Cái; nuôi thuỷ sản biển và nuôi nhuyễn thể được xác định là phát triển kết hợp với du lịch, lấy công nghệ nuôi bán thâm canh làm chủ đạo, phát huy lợi thế về thị trường, tận dụng diện tích mặt nước có khả năng phát triển nuôi, tránh tình trạng ‘’quá tải’’ của vùng nước; qui hoạch 9 vùng nuôi tôm công nghiệp tập trung… Những tưởng đây là cơ sở vững chắc, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản hoạt động và phát triển. Tuy nhiên, theo phản ánh của các doanh nghiệp, sản xuất của họ bị cầm chừng trong thời gian qua, do thiếu nguyên liệu để hoạt động.

a
Cấy ghép ngọc trai xuất khẩu tại Công ty TNHH Taiheiyo Shinju (Vân đồn).                                                                  ảnh: PV

Đặc thù nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực miền Bắc chủ yếu tập trung vào vụ xuân hè, thời vụ thu hoạch dồn dập khoảng nửa tháng 6 đầu tháng 7. Đây là thời điểm duy nhất trong năm các doanh nghiệp không bị rơi vào tình trạng khan hiếm nguyên liệu, còn lại hầu như phải phụ thuộc hoàn toàn vào sản lượng khai thác. Trong khi đó, bao nhiêu năm qua nghề khai thác thuỷ sản Quảng Ninh phát triển quá mất cân đối giữa vùng ven bờ và xa bờ, chủ yếu tập trung vào khai thác nhóm cá nổi dẫn đến sự suy kiệt về tài nguyên. Đội tàu khai thác xa bờ phát triển chậm, hoạt động không hiệu quả, thời gian bám biển thấp, công tác dịch vụ hậu cần nghề cá lại không được tổ chức tốt nên sản lượng khai thác được đều rơi hết vào tay đầu nậu bán cho tàu thu mua Trung Quốc, vì vậy các cơ sở chế biến trong tỉnh thiếu nguyên liệu để hoạt động. Hai năm gần đây khi giá xăng dầu, vật tư ngư lưới cụ liên tục tăng, ngư dân không ra khơi bám biển nên càng khó khăn hơn cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản khi tìm mua nguyên liệu để duy trì hoạt động của nhà máy và thực hiện các hợp đồng đã ký kết. Để giải quyết bài toán này, các địa phương ven biển đều đã xây dựng xong quy hoạch phát triển ngành kinh tế thuỷ sản. Nhiều địa phương đang tích cực triển khai thực hiện các dự án chuyển đổi diện tích sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên, do nhiều vùng nuôi đầu tư phát triển không theo quy hoạch, các dự án đầu tư không có thiết kế kỹ thuật, hệ thống cấp, thoát nước của một số dự án không phù hợp nên việc cấp nước ngọt cho một số vùng nuôi hiện nay rất khó khăn, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, môi trường và chất lượng sản phẩm của vùng nuôi.

Các cơ sở chế biến thực sự yếu kém

Các cơ sở chế biến thuỷ sản ở Quảng Ninh hiện được chia thành 2 nhóm: Chế biến các sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu và sản phẩm tiêu thụ nội địa. Toàn tỉnh hiện có 2 công ty chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu, 1 công ty chế biến thực phẩm chất lượng cao tiêu thụ nội địa. Tổng công suất cấp đông của cả 3 đơn vị này là 50 tấn/ngày, tổng công suất kho bảo quản lạnh trên 2.000 tấn. Các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đã tập trung đầu tư nâng cấp nhà xưởng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới thiết bị công nghệ phù hợp cho việc sản xuất các mặt hàng cao cấp xuất khẩu; xây dựng hệ thống xử lý nước thải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Sản phẩm của các đơn vị này đã có mặt ở thị trường EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, dây chuyền công nghệ chế biến của các đơn vị này vẫn rất lạc hậu, thiết bị phần lớn là cũ, thiếu đồng bộ nên hiệu quả sản xuất thấp. Mặc dù các đơn vị đã đầu tư kinh phí để nhập dây chuyền sản xuất các sản phẩm chất lượng cao như: Mực sashimi, tôm đông rời nguyên con IQF (cấp đông nhanh) nhưng do thiếu nguyên liệu nên hiệu suất các dây chuyền đạt thấp. Sản lượng chế biến đông lạnh hạn chế cả về số lượng và chủng loại, chỉ chiếm hơn 20% tổng sản lượng thuỷ sản đã xuất khẩu. Tổng sản phẩm xuất khẩu nếu quy ra nguyên liệu tươi đã sử dụng chế biến chỉ bằng 17% tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng của toàn tỉnh.

Theo đánh giá của các chuyên gia thì các đơn vị chế biến thuỷ sản quá thụ động trong việc thu mua nguyên liệu tươi để phục vụ cho chế biến. Trong những năm qua, các doanh nghiệp này chỉ thu mua được khoảng 30% số nguyên liệu từ nuôi trồng và khai thác, phần lớn nguyên liệu được bà con ngư dân xuất bán trực tiếp sang Trung Quốc. Công suất nhà máy chưa sử dụng hết nhưng vì chạy theo lợi nhuận nên các đơn vị chủ yếu tập trung vào kinh doanh các mặt hàng có lợi nhuận cao như mực khô, cá khô, các sản phẩm khô (chiếm tới gần 80% tổng sản lượng thuỷ sản xuất khẩu của toàn tỉnh).
Trong khi nguồn cung không ổn định thì các cơ sở chế biến lại phân bố không phù hợp theo các tuyến sản xuất và các vùng nguyên liệu, chủ yếu tập trung ở Hạ Long, Vân Đồn và Yên Hưng, nên không đáp ứng được yêu cầu giải quyết đầu ra cho khai thác và nuôi trồng. Chế biến thuỷ sản xuất khẩu còn nặng về dịch vụ thương mại, ít chế biến các sản phẩm thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Vì vậy, nhiều vùng nguyên liệu không có nơi tiêu thụ gây khó khăn và làm thiệt hại cho người sản xuất, hạn chế sự phát triển của nghề khai thác và nuôi trồng. Trong khi chế biến sản phẩm xuất khẩu còn nhiều bất cập thì chế biến tiêu thụ nội địa lại mang nặng tính thủ công, quy mô nhỏ, chủ yếu là các sản phẩm truyền thống như: Nước mắm, cá khô, mực khô, tôm khô, bột cá chăn nuôi. Do sử dụng công nghệ và thiết bị cũ, năng suất thấp; quy mô chế biến nhỏ, phân tán vì thế rất khó khăn cho việc kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Theo khảo sát của cơ quan chuyên môn thì trung bình hàng năm các doanh nghiệp chế biến được khoảng 900.000 lít nước mắm chất lượng cao, các cơ sở tư nhân, hộ gia đình khoảng 1,2 triệu lít. Do công nghệ, thiết bị chế biến lạc hậu, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao nên một số cơ sở đã phải ngừng hoạt động hoặc chỉ hoạt động cầm chừng.

Năm 2007, UBND tỉnh cấp phép cho một doanh nghiệp từ Nha Trang ra đầu tư xây dựng một cơ sở chế biến thuỷ sản có quy mô lớn, doanh nghiệp này cũng đã tính toán xây dựng một hệ thống thu mua nguyên liệu từ sản xuất đến nhà máy. Nhưng chờ mãi chẳng thấy đi vào hoạt động mà nguyên nhân cũng do thực lực yếu kém, không có đủ kinh phí đầu tư nhập thiết bị máy móc... Thực tế của ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản hiện nay khiến nhiều người cảm thấy rất lo lắng và đặt ra câu hỏi: Liệu bao giờ ngành công nghiệp này mới có sự bứt phá mạnh mẽ?

Cùng chuyên mục