Sau 5 năm (2002-2007) triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về đẩy nhanh công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH) nông nghiệp nông thôn tỉnh ta đã khẳng định kết quả rõ nét, đó là sự chuyển biến lớn trong cơ cấu kinh tế, nhất là trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đời sống người nông dân ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nhìn lại quá trình thực hiện còn nhiều vấn đề tồn tại cần tập trung sức giải quyết.
Thành công bước đầu
Kết quả nổi bật nhất sau 5 năm thực hiện đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn là cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Bộ mặt khu vực nông thôn có sự chuyển biến lớn, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng được cải thiện. Lĩnh vực văn hoá xã hội có sự chuyển biến tích cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Hệ thống cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm được nhà nước và nhân dân cùng làm ngày càng khang trang, sạch đẹp đáp ứng nhu cầu sinh hoạt. Đến nay 100% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã, hệ thống điện lưới được quan tâm đầu tư đảm bảo phục vụ cho sản xuất sinh hoạt và điện khí hoá khu vực nông thôn; 13/14 huyện, thị xã, thành phố hoàn thành phổ cập trung học cơ sở; tỷ lệ hộ dân nông thôn được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh tăng cao. Đặc biệt các thiết chế văn hoá được đầu tư toàn diện như trụ sở làm việc, nhà văn hoá khu dân cư, điểm bưu điện văn hoá xã, hệ thống phát thanh, truyền hình.
Riêng đối với lĩnh vực nông nghiệp nhiều mô hình sản xuất tiên tiến, nhiều công thức luân canh gắn với việc sử dụng giống mới và áp dụng các biện pháp canh tác khoa học đã được nhân rộng nâng cao hiệu quả sản xuất. Nhiều mô hình kinh tế trang trại, cánh đồng đạt giá trị thu nhập cao đã hình thành và ngày càng được mở rộng ở các địa phương. Đáng kể nhất về chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp đó là sản xuất đang tiến dần đến cơ giới hoá. Nếu như trước năm 2000 phần lớn các hộ nông dân sử dụng trâu làm sức kéo trong khâu làm đất, tỷ lệ dân có máy móc phục vụ cho quá trình sản xuất rất ít, thì đến nay nhiều hộ nông dân, các chủ trang trại đã mua sắm được máy kéo, máy cày, máy bơm nước, ô tô, máy tuốt, máy đập, xay xát gạo, thiết bị kiểm soát nguồn nước, đo độ mặn, sục khí hiện đại thay thế cho lao động thủ công. Tính đến nay toàn tỉnh đã có 1.616 máy cày, 1.520 máy tuốt lúa, 6.280 máy bơm và 5.898 máy chế biến các loại, tổng diện tích gieo trồng hàng năm được làm bằng máy là 28.514 ha (đạt 38% diện tích gieo trồng toàn tỉnh). Nhờ đưa máy móc vào sản xuất nên đã chuyển được một số lao động sang làm các ngành nghề khác có lợi thế, chuyển trâu cày kéo sang nuôi lấy thịt. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn có sự chuyển dịch đúng hướng và thay đổi rõ nét: Trà lúa xuân muộn hình thành chiếm 85%; mùa sớm, trung vụ chiếm 63%, lúa lai chiếm 12% diện tích. Ngành NN&PTNT đã xác định được bộ giống chủ lực là Khang dân 18, Q5, QNT1, Hồng Kông, Hương Thơm và các giống lúa lai trong sản xuất lương thực. Một số mô hình sản xuất giá trị cao đã hình thành như trồng rau, hoa công nghệ cao ở Hoành Bồ, Yên Hưng, Đông Triều, Uông Bí cho giá trị thu nhập bình quân đạt 50-80 triệu đồng/ha. Tỷ trọng chăn nuôi tăng nhanh, người dân trong tỉnh đã bước đầu quen với chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp, tạo ra sản phẩm hàng hoá lớn không chỉ phục vụ cho tiêu dùng nội địa mà còn tạo được nguyên liệu để xuất khẩu. Riêng đàn bò đã đạt tốc độ tăng bình quân 17,6%/năm, gấp 1,92 lần so với năm 2003. Toàn tỉnh hiện có 12 trại gà chăn nuôi theo quy mô công nghiệp với số lượng 200 nghìn con/năm. Là tỉnh có thế mạnh về phát triển nghề rừng trong 5 năm qua bằng các nguồn vốn của trung ương, tỉnh, ngành than và các thành phần kinh tế toàn tỉnh đã trồng được 51.631 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 47%, nghề rừng phát triển nên đời sống của nhân dân khu vực miền núi ngày càng được nâng cao.
Những bất cập tồn tại
Mặc dù đạt được nhiều kết quả khả quan nhưng nhìn chung người nông dân vẫn còn gặp không ít khó khăn thách thức trong quá trình đẩy nhanh CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn. Trước hết là diện tích sản xuất bình quân theo đầu người ngày càng giảm do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá quá nhanh. Trong khi đó trình độ sản xuất của người nông dân mang tính thủ công là chủ yếu, chưa theo kịp tốc độ công nghiệp hoá, sự đầu tư trực tiếp của Nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp còn ít. Tiến đến nền sản xuất hàng hoá lớn nhưng đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp vẫn đang là bài toán chưa có lời giải, sản xuất vẫn theo lối tư duy truyền thống theo kiểu tự cung tự cấp. Sản xuất chưa gắn với chế biến, thiếu sự liên kết giữa 4 nhà, sản phẩm làm ra bấp bênh luôn ở vào tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất mùa”. Các cụm công nghiệp, ngành nghề nông thôn mới tập trung ở khu vực thành thị chậm phát triển về nông thôn. Người nông dân muốn đầu tư sản xuất lớn nhưng lại thiếu vốn, thí dụ đào 1 ha thả cá nuôi theo quy mô công nghiệp cần phải đầu tư hàng trăm triệu đồng, trong khi cả cơ nghiệp của họ đem thế chấp ngân hàng cũng không đủ để vay được số tiền ấy. Đó là chưa kể bỏ vốn đầu tư lớn lỡ gặp rủi ro thì họ mất cả chì lẫn chài. Trong điều kiện giá vật tư, phân bón, thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao, dịch bệnh luôn đe doạ đẩy sản xuất vào thế hết sức bếp bênh khiến nhiều hộ không dám đầu tư mở rộng sản xuất.
Hệ thống kênh mương phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ngày càng được hoàn thiện.
Một vấn đề khác ở các vùng nông thôn đó là mặc dù có nhiều vùng sản xuất nhưng lại manh mún, nhỏ lẻ, không thành vùng tập trung để sản xuất hàng hoá. Các cơ sở chế biến, giết mổ ở các làng quê mới chỉ phần nào đáp ứng về số lượng chứ chất lượng và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo. Sự bất cập lớn nhất trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp hiện nay đó là tình trạng dư thừa lao động ở nông thôn nhưng lại thiếu việc làm. Đặc biệt ở các địa phương có tốc độ công nghiệp hoá càng nhanh thì thực trạng này lại càng đáng lo ngại hơn rất nhiều. Với sự hỗ trợ của các phương tiện máy móc hiện đại chỉ cần 2 người nông dân đã có thể làm hết công việc của nhà nông. Mùa vụ cũng chỉ kéo dài từ 2-4 tuần, thời gian nông nhàn ngày càng nhiều, không có việc làm, không có thu nhập người nông dân đổ xô ra thành thị, các khu công nghiệp kiếm việc làm. Nhưng vì không có trình độ, không đáp ứng được yêu cầu lao động chất lượng cao họ chỉ được trả mức lương của lao động thủ công, lương thấp chỉ đủ ăn làm không có tích luỹ nhiều người đã trở về quê và thế là một nghịch lý thừa lao động thiếu việc làm lại tiếp tục xảy ra và vẫn lại câu chuyện nghèo vẫn hoàn nghèo.
Tìm hướng đi thích hợp
Trồng trọt hiện vẫn là lĩnh vực sản xuất chính trong nông nghiệp, tuy nhiên trồng loại cây nào năng suất cao, chất lượng tốt thì bà con nông dân và ngành NN&PTNT vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm, thử nghiệm. Tỉnh cũng đã có chủ trương chuyển đổi những diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản, trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao. Nhiều năm qua tỉnh cũng đã có cơ chế, chính sách hỗ trợ kích thích cho nông nghiệp phát triển thông qua chương trình hỗ trợ kinh tế về giống cây, con, đầu tư cơ sở hạ tầng... Để tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, UBND tỉnh đã xây dựng 8 nhóm giải pháp cơ bản về công tác quy hoạch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá, giáo dục, cơ chế chính sách. Tuy nhiên dù thực hiện bất kỳ giải pháp nào thì điều quan trọng trước tiên cần được tính toán đến đó là bài toán “ly nông bất ly hương” đối với bà con nông dân trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn.