Theo thống kê của Sở Công Thương, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 97 doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu các mặt hàng cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, cấm nhập khẩu...
Hiện nay, có 6 mặt hàng cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu đã được Bộ Công Thương cấp phép và tỉnh Quảng Ninh cho tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu của tỉnh gồm: Xe máy, xe ô tô có thời hạn sử dụng trên 5 năm, hàng điện tử, săm lốp ô tô, quần áo đã qua sử dụng, phế liệu (nhựa, cao su). Riêng đối với mặt hàng xe đạp, theo yêu cầu của công tác chống buôn lậu trên địa bàn, tỉnh đã ngừng cấp giấy phép mới cho các doanh nghiệp tái xuất mặt hàng này qua Khu kinh tế cửa khẩu của tỉnh từ ngày 1-9-2008. Nếu như năm 2005, các dịch vụ tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, kho ngoại quan qua các cửa khẩu của tỉnh đạt 161 triệu USD thì năm 2008 đạt 2,82 tỷ USD. Riêng 7 tháng đầu năm 2009, suy giảm kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động thương mại. Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng ước đạt trên 993 triệu USD, bằng 49,57% kế hoạch, tăng 4,72% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu 7 tháng ước đạt 706 triệu USD, trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp địa phương là 21,78 triệu USD bằng 61,75% so với cùng kỳ. Trị giá các hoạt động dịch vụ kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, kho ngoại quan 7 tháng ước đạt 525,615 triệu USD, đạt 46,51% kế hoạch, bằng 80,45% so với cùng kỳ.
Mặc dù hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu không có thuế xuất nhập khẩu nhưng hàng năm các doanh nghiệp đã nộp thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua nguồn thu từ phí dịch vụ 30-40 tỷ đồng. Riêng thu phí, lệ phí bến bãi biên giới theo quy định của UBND tỉnh và các loại phí hải quan, biên phòng, cảng vụ... mỗi năm hàng chục tỷ đồng. Thông qua hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu đã giải quyết được gần 1 vạn lao động từ các khâu bốc xếp hàng hoá, vận tải... Hoạt động này cũng đã thúc đẩy các hoạt động dịch vụ phụ trợ ở khu vực biên giới phát triển mạnh. Các bến, bãi, cảng của thương nhân khu vực phát triển tốt cũng nhờ lượng hàng hoá kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu bốc xếp vận chuyển qua biên giới. Đời sống của nhân dân biên giới vì thế cũng được cải thiện nhiều.
Tuy các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ trên địa bàn tỉnh đã phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng thực tế vẫn mang nặng tính tự phát, chưa bền vững. Hiện đang tồn tại một thực tế rất đáng buồn mà chính các doanh nghiệp kinh doanh loại hình này đều thừa nhận là tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Việt Nam. Cho đến thời điểm này vẫn chưa có Hiệp hội hay một tổ chức đoàn thể nào kết nối các doanh nghiệp Việt Nam lại với nhau để có thể điều tiết.
Khi trao đổi về vấn đề này, PGS-TS Lê Trịnh Minh Châu, Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công Thương cho rằng: So với các địa phương trong cả nước, Quảng Ninh là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế trên các mặt. Song chính quyền các cấp chưa quan tâm chú ý hết các tiềm năng trong đó có kinh tế cửa khẩu, biên mậu, do đó tốc độ phát triển còn ở mức khiêm tốn. Chính vì vậy nhiều năm qua, cơ sở hạ tầng thương mại biên giới còn thiếu và chưa được đầu tư đồng bộ. Việc vận chuyển hàng hoá ra biên giới còn nhiều khó khăn, chi phí lớn, trong khi Trung Quốc đã đầu tư tương đối hoàn thiện cơ sở hạ tầng (cửa khẩu, bến bãi, đường ra cửa khẩu...). Đây chính là một thách thức lớn trong phát triển thương mại biên giới của Quảng Ninh. Việc hợp tác hiệu quả với Đông Hưng để khai thác các thế mạnh về thương mại quốc tế, du lịch và các ngành dịch vụ khác đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ cần phải tiếp tục được xác định là hướng đi quan trọng trong lĩnh vực phát triển thương mại của tỉnh. Có như vậy, Quảng Ninh sẽ thu nhiều lợi ích về thương mại hàng hoá - dịch vụ và xây dựng được điểm tăng trưởng mới ở khu vực biên giới để góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững sau năm 2015.