Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh tế biên mậu

Mặc dù trên thực tế, nước ta đã bước đầu xây dựng được những cơ sở pháp lý cho hoạt động thương mại biên giới, trong đó bao gồm chính sách thương mại biên giới với Trung Quốc. Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu tại một số cửa khẩu lớn trong đó có các cửa khẩu khu vực biên giới Quảng Ninh vẫn còn nhiều bất cập cần giải quyết.

 Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh tế biên mậu ảnh 1
Chuyển tải hàng hoá để xuất khẩu sang Trung Quốc tại bến cảng của Công ty TNHH Minh Thăng (Móng Cái).
                                                Ảnh: TM

Đầu tháng 12 này, tại cửa khẩu Ka Long và điểm thông quan Lục Lầm (Móng Cái), mặc dù còn gần 100 container chưa kịp tái xuất sang Trung Quốc do vướng mắc thủ tục nhưng vẫn có nhiều lô hàng đông lạnh khác vẫn tiếp tục đổ bộ về khu vực này. Các doanh nghiệp làm dịch vụ ủy thác tại Móng Cái giải thích rằng vì trước đó đã ký hợp đồng, vẫn phải nhập về theo tuần tự dù biết rằng nhập về trong lúc này là để chờ đợi, cầm chắc tốn kém và thua lỗ.

Được biết bắt đầu từ sau ngày 30-9 khi thực hiện hướng dẫn giải quyết các vấn đề liên quan đến hàng đông lạnh TNTX của Văn phòng Chính phủ tại Công văn số 7021/VPCP-KTTH ra ngày 4-10-2010. Bởi lẽ trong cùng một văn bản lại có hai nội dung chỉ đạo trái ngược nhau. Cụ thể: Tại điểm 2 Công văn 7021 có quy định rõ: Bộ Công Thương khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ cơ chế quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh sản phẩm đông lạnh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 1152/TTg-KTTH ngày 7-7-2010. Nghĩa là, hàng đông lạnh nhập khẩu theo loại hình TNTX về cảng Việt Nam sau ngày 30-9 sẽ không được làm thủ tục tái xuất và phải chờ cho đến khi Chính phủ có cơ chế quản lý điều hành hoạt động kinh doanh sản phẩm đông lạnh theo phương thức TNTX do Bộ Công Thương chủ trì. Ngược lại, trong điểm 1 của Công văn 7021 lại hướng dẫn: “Đồng ý việc tiếp tục làm thủ tục thông quan để tái xuất các lô hàng sản phẩm đông lạnh các loại kinh doanh theo các hình thức TNTX, chuyển khẩu, gửi kho ngoại quan với các điều kiện: Hàng chỉ được làm thủ tục thông quan, tái xuất qua các cửa khẩu quốc tế, quốc gia và các cửa khẩu, điểm thông quan trong các KKT cửa khẩu được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập đã có đủ cơ quan kiểm soát theo quy định hiện hành; hàng đã ký hợp đồng, đã có vận đơn và đến Việt Nam trước ngày 30-9-2010”. Đây cũng là quan điểm chỉ đạo trước đó của Thủ tướng Chính phủ nêu tại điểm 2, Công văn 1152/TTg-KTTH ngày 7-7-2010. Theo đó, các nhà XNK, doanh nghiệp làm dịch vụ ủy thác đã căn cứ vào các điểm “cho phép” gồm điểm 2 của CV 1152 và điểm 1 của CV 7021 tiếp tục ký kết các hợp đồng TNTX với các đối tác nước ngoài. Trong khi đó, các đơn vị hải quan lại căn cứ vào điều “không cho phép” tại điểm 2 của CV 7021, không thể làm thủ tục thông quan. Ách tắc, tồn đọng bắt đầu từ đây.

Sự việc trên đã cho thấy, cần có sự can thiệp của các nhà quản lý, những người hoạch định chính sách biên mậu. Ngoài những nguyên nhân do thể chế, cơ chế chính sách biên mậu thì cơ sở hạ tầng, đường giao thông, đặc biệt là hệ thống kho tàng bến bãi đã xuống cấp và không đảm bảo đáp ứng nhu cầu hàng hoá XNK qua lại. Thêm vào đó là công tác cán bộ, nguồn nhân lực làm công tác biên mậu tại cửa khẩu chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới hiện nay. Do đó, vấn đề đặt ra là giải pháp nào có thể khắc phục tình trạng trên?

 Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh tế biên mậu ảnh 2
Cửa khẩu Hoành Mô (Bình Liêu) được xây dựng khang trang nhưng hạ tầng giao thông, thương mại cũng cần được quan tâm hơn.

Giải quyết vấn đề này theo nhìn nhận của các cơ quan chức năng trong tỉnh, trước hết cần phải hoàn thiện cơ chế chính sách biên mậu một cách hoàn chỉnh và đồng bộ. Phải có sự chỉ đạo xuyên suốt, quyết liệt từ Chính phủ đến các Bộ, ngành liên quan. Phải có cơ chế chính sách phù hợp động viên, khuyến khích các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu biên mậu. Đồng thời cần tăng vốn đầu tư cho khu vực biên giới, các dự án tăng cường phát triển cho các vùng dân tộc thiểu số, biên giới còn nhiều khó khăn, nhất là chính sách ưu đãi phát triển biên mậu và hợp tác khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Phải có chính sách hỗ trợ thương nhân, hỗ trợ mặt hàng cụ thể trong hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc. Tích cực hoàn thiện, nâng cấp và đầu tư mới cơ sở hạ tầng giao thông, nhất là hạ tầng thương mại tại cửa khẩu trên cơ sở đầu tư một hệ thống cửa khẩu hoàn chỉnh, đồng bộ theo mô hình một tổ hợp công trình bao gồm hệ thống kho ngoại quan, kho lạnh, một hệ thống công trình dịch vụ phụ trợ phục vụ cửa khẩu… Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu hàng hoá ngày càng tăng và các doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc xuất nhập khẩu hàng hoá sang Trung Quốc bằng con đường biên mậu này. Mặt khác, phải đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức để điều hành hoạt động tại cửa khẩu. Đây là công tác trọng tâm, lâu dài và quan trọng nhất. 

Có thể thấy, hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới là một cơ chế thương mại đặc biệt. Các chính sách ưu đãi và giải pháp nêu trên cần được xem là một định hướng góp phần hướng tới mục tiêu khuyến khích hoạt động kinh tế - thương mại vùng biên giới nói riêng và KT-XH trên địa bàn tỉnh phát triển.

Cùng chuyên mục