“Giải pháp xanh” trên vùng đất trống đồi núi trọc

Tính hết năm 2009, diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh có 427.302 ha, trong đó đất có rừng là 301.751ha. Hiện nay độ che phủ của rừng tại Quảng Ninh đã chiếm 49% (tỷ lệ này của cả nước hiện khoảng 40%).

Có được kết quả này, Quảng Ninh đã đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho các thành phần kinh tế theo chủ trương của Đảng, Nhà nước. Trong đó các hộ gia đình là đối tượng chiếm tỷ trọng lớn nhất: 152.029 ha (chiếm hơn 1/3 tổng số đất rừng tòan tỉnh, với diện tích bình quân mỗi hộ có từ 4-5 ha. Nhiều hộ nhận tới 30 ha); tiếp đến là các doanh nghiệp lâm nghiệp: 96.973 ha; Các Ban Quản lý rừng: 60.109 ha; các tổ chức và doanh nghiệp khác: 52.084 ha; đơn vị lực lượng vũ trang: 10.549 ha; Cộng đồng thôn, bản: 811 ha. Diện tích 54.744 ha còn lại hiện do UBND các địa phương quản lý chưa được giao. Nhìn ở con số trên, chúng ta đều thấy để có tỷ lệ che phủ 49% như đang có, đã có sự tham gia rất lớn của các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh. Điều này càng khẳng định nếu chúng ta chỉ trông chờ ở nguồn lực đầu tư của số ít đối tượng mà không huy động được sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế thì cái đích phủ xanh đất trống, đồi núi trọc vẫn ở rất xa. 

“Giải pháp xanh” trên vùng đất trống đồi núi trọc ảnh 1
Đoàn viên, thanh niên Cơ quan DCĐ tỉnh trồng cây bảo vệ môi trường tại xã Thượng Yên Công, TX Uông Bí.

Kinh nghiệm cho thấy, hiệu quả trồng rừng của cả hộ dân, doanh nghiệp lâm nghiệp và doanh nghiệp - tổ chức khác đều có tích cực và hạn chế riêng. Vấn đề là sau khi đã phân 3 loại rừng và quy hoạch được các khu vực, ưu tiên giao đất cho dân thì đã làm tốt việc giao đất ở đâu, cho đối tượng nào thì hiệu quả và phù hợp, nên đã đạt kết quả trồng rừng tốt mà đảm bảo bình đẳng như nhau giữa các thành phần. Mấy năm gần đây, các hộ dân đã muốn trồng rừng, nhưng do vốn quá mỏng, lại ít lao động, nên chỉ trồng rừng ở những vị trí thuận lợi nhất. Ưu tiên đến vậy, nhưng vẫn có nhiều hộ nhận đất rồi bỏ không. Bên cạnh đó, do tập quán canh tác, không ít hộ dân chưa mặn mà nhận đất, mặc dù tỉnh đã có quyết định về hỗ trợ hết cây giống, kỹ thuật cho bà con. Với các Công ty lâm nghiệp có thể giao diện tích lớn, qui mô công nghiệp, song cái khó nhất là các công ty này cũng trong tình trạng thiếu vốn. So với 2 đối tượng trên thì các tổ chức - doanh nghiệp khác (Công ty TNHH, Công ty cổ phần, doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, HTX...) hiện được đánh giá là có tiềm năng nhất về vốn. Nhiều doanh nghiệp đã có kinh nghiệm trồng rừng từ những năm giữa thập kỷ 90. Cho  đến nay, đã có gần 50 doanh nghiệp, tổ chức khác trồng tại Quảng Ninh với vốn đầu tư gần 1.000 tỷ đồng. Bằng nguồn lực này, chính các doanh nghiệp mới đủ sức đầu tư ở các địa bàn mà bấy lâu nay không giao được cho dân cũng như thành phần khác. Đến nay, ngoài 2 doanh nghiệp (Thành Tín và Hoài Nam chưa thực hiện đúng như dự án phê duyệt), còn lại hầu hết các doanh nghiệp, tổ chức khác khi nhận đất lâm nghiệp đều tổ chức trồng rừng khá hiệu quả, tạo thành những vùng nguyên liệu lớn, tập trung, qui mô công nghiệp, nhiều nơi đã gắn liền với cơ sở chế biến lâm sản.

Nói chung, để có nguồn lực đủ mạnh trong khi ngân sách nhà nước còn nhiều nhiệm vụ phải lo thì điều cốt yếu là các địa phương phải huy động được sức mạnh tổng hợp từ các thành phần kinh tế, trong đó nguồn lực mạnh nhất hiện nay là các doanh nghiệp vào trồng rừng. Song vấn đề cần lưu ý với các doanh nghiệp này là quản lý giống cây trồng. Vì đã kinh doanh thì cứ cây nào có giá trị là họ đầu tư trồng. Để giải quyết vấn đề này, Bộ NN&PTNT đều có thẩm định các giống cây mà các doanh nghiệp cây trồng. Cùng các biện pháp trên, để quản lý chặt chẽ tài nguyên đất, tỉnh đã có qui định riêng trong vấn đề giao đất trồng rừng. Như  chúng  ta biết  gần đây rất nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh làm giàu được nhanh chóng từ rừng, nên đã tạo ra làn sóng xin giao đất giao rừng. Trong quá trình quản lý, tỉnh đã phát hiện một số doanh nghiệp xin giao đất lâm nghiệp nhưng họ để “xí phần”, hoặc không trồng rừng. Cá biệt, cũng có doanh nghiệp không đủ năng lực để trồng rừng theo hướng thâm canh, công nghiệp do đó nhận đất rồi mà vẫn ngồi chờ vốn, trong khi không ít doanh nghiệp khác có vốn nhưng lại chờ giao đất. Khắc phục tình trạng này, năm 2009, UBND tỉnh đã ban hành qui định về những chính sách phát triển rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh. Quy định có “Chính sách ưu tiên cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn bản”, trong đó nêu rõ “ưu tiên nhu cầu nhận đất để trồng rừng cho người dân địa phương, hộ đồng bào dân tộc thiểu số”. Với các tổ chức và doanh nghiệp, qui định đưa ra các tiêu chí, như phải có năng lực về tài chính được các tổ chức ngân hàng xác nhận nguồn tài chính đảm bảo khả thi; phải có danh sách lực lượng kỹ thuật thực có của doanh nghiệp kèm theo hồ sơ pháp lý chứng minh nguồn lực này. Các doanh nghiệp khi đáp ứng được các tiêu chí này thì sẽ được xét ưu tiên hơn nếu DN có liên doanh, liên kết, bảo vệ rừng với các hộ gia đình đang sinh sống trong khu vực triển khai dự án và hỗ trợ xây dựng hạ tầng để đảm bảo an sinh xã hội. Dự án trồng rừng phải được kết hợp với đầu tư cơ sở sản xuất chế biến và tiêu thụ lâm sản; doanh nghiệp đã có các dự án trồng rừng thành công, có xác nhận cụ thể của chính quyền địa phương... Quy định cũng đưa ra việc không giao đất cho những doanh nghiệp thực hiện chậm tiến độ so với dự án đã được phê duyệt, hoặc nhận đất nhưng chuyển dự án cho đối tượng khác. Trường hợp các DN đảm bảo tiêu chí như nhau thì đưa ra đấu thầu để được giao đất. Cùng việc ban hành qui định này, UBND tỉnh đã thành lập Hội đồng để xem xét, lựa chọn doanh nghiệp đủ điều kiện đầu tư phát triển rừng. Bằng qui định này và một số cơ chế khác, tỉnh Quảng Ninh đã khuyến khích, ưu tiên cho người dân nhận đất tới mức tối đa có thể, tăng cường quản lý chặt chẽ được tài nguyên đất lâm nghiệp và lựa chọn được những DN, tổ chức có đủ năng lực đầu tư để làm giàu từ rừng.

Có  thể  khẳng  định đây là kinh nghiệm thực tế rất quý báu trong lộ trình chúng ta đang nỗ lực phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và tiến tới làm giàu được từ rừng, nhằm sớm đạt được mục tiêu “rừng Vàng - biển Bạc” như Hồ Chủ tịch đã dạy.

Cùng chuyên mục