Góp phần bảo vệ môi trường và làm giàu rừng

Vào những năm 1980 - 2000 do áp lực khai thác quá lớn đã làm suy giảm nhanh chóng cả số lượng và chất lượng rừng, thời kỳ này độ che phủ rừng của toàn tỉnh chỉ còn 36%, đã đến mức báo động.

Góp phần bảo vệ môi trường và làm giàu rừng ảnh 1

 Các hộ thành viên Công ty Lâm nghiệp Uông Bí chuẩn bị cây keo giống trồng rừng 2007.

Trữ lượng rừng chỉ còn dưới 5 triệu m3, chủ yếu phân bố ở những nơi cao, xa điều kiện khai  thác, vận chuyển vô cùng khó khăn, phức tạp. ở vào giai đoạn này mặc dù là khách hàng truyền thống cung cấp gỗ trụ mỏ cho các công ty than nhưng các đơn vị trong ngành Lâm nghiệp cũng chỉ đáp ứng được dưới 15% nhu cầu gỗ trụ mỏ và sản lượng cung ứng ngày càng bị thấp đi do việc phải đóng cửa rừng. Trong khi đó theo tính toán của ngành Than để khai thác được 1.000 tấn than thì cần 46m3 gỗ chống lò. Nếu như năm 1997 cần 176.500 m3 thì năm 2005 cần hơn 250.000 m3 và nhu cầu sẽ tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo. Trong khi nguồn cung cấp gỗ từ rừng tự nhiên ngày càng khó bởi Chính phủ đã có yêu cầu từ năm 2005 phải đóng cửa rừng không khai thác gỗ rừng tự nhiên. Như vậy không chỉ hoạt động sản xuất của các lâm trường gặp khó khăn mà các công ty than cũng đứng trước nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng sản lượng gỗ chống lò. Để giải quyết khó khăn này, năm 1997 Tổng Công ty Than (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - TKV) và Sở NN&PTNT đã quyết định phối hợp thực hiện Dự án tạo rừng gỗ mỏ phục vụ khai thác than. Dự án được thực hiện dưới hình thức các công ty than ứng trước vốn cho các lâm trường trồng rừng, các lâm trường trả lại gỗ sau khi rừng trồng đạt tới tuổi thành thục công nghệ. Dự án được triển khai ở các địa phương: Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Cẩm Phả, Vân Đồn, Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu với tổng diện tích dự kiến trồng mới là 16.130 ha tại 77 tiểu khu rừng. Cây trồng chủ yếu là keo, thông mã vĩ, bạch đàn, thông Elliotti, giẻ bốp; khoanh nuôi tái sinh bảo vệ 10.610 ha tại 45 tiểu khu nhằm sản xuất 1,338 triệu m3 gỗ mỏ phục vụ cho khai thác than; giải quyết việc làm cho 2.000 lao động lâm nghiệp và 500 hộ thành viên. Tổng nguồn vốn đầu tư trong 10 năm là 158,316 tỷ đồng, trong đó: Đầu tư trồng mới 68,107 tỷ đồng; chăm sóc 52,016 tỷ đồng; khoanh nuôi bảo vệ làm giàu rừng 38,193 tỷ đồng. Hàng năm TKV và Sở NN&PTNT thống nhất về lượng vốn ứng, địa chỉ ký hợp đồng giữa các đơn vị thành viên của 2 bên. Tiến độ tạo rừng được dự kiến theo từng năm, cho từng công ty lâm nghiệp và bằng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh đồng bộ.

Sau 10 năm triển khai thực hiện dự án các công ty lâm nghiệp đã trồng được 7.433,9 ha rừng trồng tập trung, đạt 46% kế hoạch. Cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, tốc độ tăng trưởng đường kính 1,5 - 2,2 cm/năm, chiều cao 1,5 - 2m/năm, trữ lượng đạt 8 - 12m3/ha/năm. Sau 7- 8 năm cây trồng đạt thành thục công nghệ có đường kính bình quân 14 - 22cm, chiều cao bình quân 10 - 14m, trữ lượng đạt 80 – 100m3/ha. Nếu như năm đầu triển khai thực hiện dự án chỉ có 3 công ty lâm nghiệp là Hoành Bồ, Ba Chẽ, Vân Đồn tham gia và trồng được 212,26 ha thì những năm sau tất cả các đơn vị trong ngành lâm nghiệp đều đăng ký tham gia thực hiện dự án. Diện tích rừng trồng tăng lên hàng năm, riêng năm 2007 đã trồng được 1.470 ha (vượt  165% kế hoạch), vốn ứng trước bình quân 6,37 triệu đồng/ha. Kể từ năm 2004 các công ty lâm nghiệp bắt đầu thanh toán gỗ  trồng rừng từ nguồn vốn ứng trước cho các công ty than theo đúng hợp đồng. Đến năm 2007 đã thanh toán được 17.545 m3 gỗ. Do thực hiện tốt dự án, lựa chọn cây trồng phù hợp nên một số lâm trường đã trả được gỗ cung ứng trước 1 năm cho các công ty than. Số lượng gỗ còn phải thanh toán 95.653 m3 và sẽ được thanh toán theo tiến độ đến năm 2015. Theo cam kết của các công ty lâm nghiệp việc trả gỗ theo hợp đồng cung ứng không có gì khó khăn bởi số lượng gỗ ở tuổi thành thục công nghệ lớn hơn rất nhiều lần so với số gỗ phải thanh toán. Trữ lượng khi thành thục công nghệ ước đạt 594.700 - 669.000 m3, phần thặng dư này sẽ được cung ứng cho các công ty than theo nhu cầu hàng năm. Dự án được triển khai thực hiện không chỉ giải quyết việc làm cho công nhân ngành lâm nghiệp mà còn góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm cho 1,1 triệu lao động sinh sống ở khu vực cận rừng. Đây là dự án trồng rừng đầu tiên được thực hiện theo hình thức hợp đồng kinh tế rất thành công tạo cộng quản tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Cùng với các dự án lâm nghiệp khác đã nâng độ che phủ rừng của tỉnh lên 46%, cao hơn gần 10% so với mức bình quân chung của cả nước.  Việc thực hiện đúng, đủ các hợp đồng đã cam kết tạo cho các đơn vị trong ngành lâm nghiệp một bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức về làm ăn kinh tế thời cơ chế thị trường, bước chuẩn bị tích cực trong thời kỳ hội nhập. Còn đối với các đơn vị trong ngành Than việc thực hiện dự án không những đáp ứng đủ gỗ trụ mỏ phục vụ cho sản xuất mà còn đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tham gia vào quá trình bảo vệ môi trường, tài nguyên.

Cùng chuyên mục