Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn là một trong 7 chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng nhất. Nó không những đáp ứng nhu cầu sử dụng nước hợp vệ sinh của người dân khu vực nông thôn mà còn góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt của họ nhất là trong sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn như hiện nay.
Trạmcấp nước xã Yên Hải (Yên Hưng) mới được đầu tư xây dựng.
Năm 2006 là năm đầu tiên Quảng Ninh thực hiện giai đoạn II (2006-2010) của Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và VSMT nông thôn với tổng vốn đầu tư 14,7 tỷ đồng. Tính đến tháng 10-2006, toàn tỉnh đã xây dựng, hoàn thiện 23 trạm cấp nước tập trung và tự chảy có công suất từ 120-140 m3/ngày; 553 giếng và 180 bể chứa nước mưa, xây 714 hầm Biogas. Ngoài ra, người dân còn tự đào và xây 640 giếng, bể với tổng số vốn khoảng 5,9 tỷ đồng. Theo ước tính của Trung tâm Nước sinh hoạt và VSMT nông thôn Quảng Ninh đến hết năm 2006 sẽ có thêm khoảng 27.000 người dân trên địa bàn toàn tỉnh được dùng nước hợp vệ sinh, nâng tổng số dân ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh lên 394.344 người, chiếm 68% dân số nông thôn. 78.655 dân có công trình vệ sinh. Có được kết quả này nhờ các cấp, ngành và chính quyền cơ sở đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục vận động cộng đồng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của nước sạch. Mặt khác, việc phân cấp minh bạch, tự chủ trong đầu tư đã giúp người dân lựa chọn mô hình, công nghệ thích hợp với từng địa phương và từng hoàn cảnh cụ thể. Hiện nay tất cả các trạm cấp nước nông thôn đều được quản lý theo mô hình: Hợp tác xã điện nước, tổ dịch vụ... đã nâng hệ số khai thác, công suất tăng từ 47% lên 60%, giảm tỷ lệ thất thoát từ 40 xuống 25%. Ngoài ra đã hình thành một số mô hình cơ bản áp dụng cho các địa phương như: Giếng đào, bể nước mưa cho các xã đảo, ven biển, các xã có địa hình tương đối bằng phẳng thuộc các địa phương: Uông Bí, Yên Hưng, Vân Đồn, Cô Tô, Đầm Hà, Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên; trạm cấp nước bơm dẫn của các xã, phường thuộc Yên Hưng, Đông Triều, Hạ Long, Móng Cái. Đặc biệt, mô hình cấp nước giếng khoan sâu kết hợp tự chảy bơm đẩy được áp dụng tại 2 dự án ở Uông Bí và Móng Cái đã có những kết quả khả quan. Mô hình này thích hợp với các địa phương có địa hình đồi núi thấp do giá thành và chi phí điện năng rẻ hơn so với mô hình bơm dẫn tập trung.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì hiện nay trong quá trình triển khai Chương trình mục tiêu vẫn còn những tồn tại: ở những nơi cần cấp nước dân cư lại quá thưa nên chi phí cao, trong khi đó nguồn vốn đầu tư cho chương trình mục tiêu không cố định. Để tỷ lệ người dân ở nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh và số hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh tăng hơn nữa các cấp, các ngành cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cộng đồng, đồng thời sử dụng nguồn vốn hợp lý chẳng hạn như: Các xã biên giới sử dụng nguồn vốn hỗ trợ biên giới theo Quyết định của Chính phủ, các xã vùng dân tộc miền núi sử dụng theo Quyết định 134, các xã còn lại sử dụng nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu và vốn vay theo Quyết định 62. Ngoài ra, cần đổi mới cơ chế quản lý tài chính phù hợp với việc phát huy nội lực để người sử dụng đóng góp một phần kinh phí trong việc xây dựng các công trình ngày một tốt hơn.