Sau hơn 10 năm phát triển, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp(KCN, CCN) đã có đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng công nghiệp cũng như GDP của tỉnh. Song, nhìn lại chặng đường này cho thấy, thực tế xây dựng và phát triển các KCN, CCN của tỉnh đang tồn tại nhiều điểm yếu cần có giải pháp tháo gỡ kịp thời. Về tổng thể, bức tranh KCN, CCN đang chỉ là những “vệt màu loang” chưa được định hình một cách sắc nét.
(Đồng chí Vũ Văn Thìn, Trưởng Ban Quản lý các KCN trả lời phỏng vấn Báo Quảng Ninh)
Toàn cảnh khu công nghiệp Cái Lân.
PV: Với cương vị là Trưởng Ban Quản lý các Khu công nghiệp, xin đồng chí cho biết đánh giá về hạ tầng các KCN hiện nay?
Đồng chí Vũ Văn Thìn: Trên địa bàn tỉnh có 3 KCN (Cái Lân, Việt Hưng, Hải Yên) đang triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng và đã cho nhà đầu tư thứ cấp thuê lại đất để thực hiện dự án đầu tư. 1 KCN đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư hạ tầng, đang triển khai giải phóng mặt bằng là KCN Đông Mai. 4 KCN (Hải Hà, Hoành Bồ, Quán Triều, Phương Nam) đang hoàn thiện trình duyệt Quy hoạch chi tiết, chuẩn bị cấp giấy chứng nhận đầu tư hạ tầng. 3 KCN (Đầm Nhà Mạc, Tiên Yên, Phụ trợ ngành than) đang kêu gọi nhà đầu tư hạ tầng. Hạ tầng kỹ thuật của một KCN phải đảm bảo nhiều yếu tố như: mặt bằng, đường giao thông nội bộ, điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống xử lý nước thải tập trung. Nhưng trên thực tế, hầu hết các KCN trên địa bàn tỉnh chưa đạt được đầy đủ các yếu tố này. Đây là một yếu điểm rất lớn tồn tại song hành cùng với sự phát triển các KCN. Cái khó ở đây là hầu hết đều đang áp dụng mô hình DN Nhà nước làm chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN. Trong khi qua thực tế hoạt động, mô hình này đã bộc lộ nhiều bất cập. Đó là do năng lực tài chính hạn chế (vốn chủ yếu là đi vay), cùng với lĩnh vực kinh doanh hạ tầng KCN được xem là không hiệu quả, nên các doanh nghiệp chỉ đầu tư cầm chừng khiến tiến độ xây dựng và phát triển các KCN bị chậm.
PV: Theo đồng chí vì sao thu hút đầu tư vào KCN trên địa bàn tỉnh hiệu quả chưa cao?
Đồng chí Vũ văn Thìn: Theo số liệu tổng hợp của các ngành và doanh nghiệp cho thấy, trong 8 tháng đầu năm 2009 tỷ lệ thu hút đầu tư vào các KCN đạt khoảng 30% so với kế hoạch trong đó chủ yếu là các dự án có quy mô không quá 10 triệu USD. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do tiến độ đền bù giải phóng mặt bằng, san nền, đầu tư hạ tầng ngoài hàng rào KCN và đầu tư hạ tầng trong KCN chậm so với nhu cầu phát triển chung của tỉnh và hoạt động của các doanh nghiệp. Vì vậy, phần nào làm cho kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp và KCN bị vênh nhau. Điển hình như việc chậm hoàn thiện tuyến đường RD01 (nối từ KCN Cái Lân ra cảng Cái Lân) đã làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ xây dựng cơ bản và kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Vinashin, Công ty Cơ khí đóng tàu than, Công ty Vijachip Cái Lân... 2 KCN khác là Hải Hà và Đông Mai, mặc dù đã được Chính phủ phê duyệt khá lâu thế nhưng đến nay vẫn đang trong quá trình chuẩn bị đền bù giải phóng mặt bằng, san nền, đầu tư hạ tầng kỹ thuật và khảo sát năng lực đầu tư của doanh nghiệp. Trong khi ở KCN Đông Mai đã có khoảng 30 nhà đầu tư đang nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư và 5 nhà đầu tư khác đầu tư vào KCN Hải Hà.
Như vậy xem ra yếu tố cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hút đầu tư. Nếu nơi nào có cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN hoàn chỉnh, thì việc kêu gọi đầu tư tương đối thuận lợi. Ngược lại, cho dù địa phương có áp dụng chính sách ưu đãi tối đa, nhưng hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, thì cũng khó thu hút được các dự án đầu tư.
Một vấn đề khác cũng đang là trở ngại đối với hoạt động của các KCN và làm ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào các KCN là cơ chế quản lý và phân cấp quản lý giữa các cơ quan chức năng. Mặc dù đối với KCN đã có Nghị định 29/2008/NĐ-CP (ngày 14-3-2008) của Chính phủ quy định nhưng trên thực tế chưa có hướng dẫn cụ thể. Do vậy có sự chồng chéo, chưa thống nhất về quản lý các KCN khiến nhiều nhà đầu tư ngần ngại. Hiện các doanh nghiệp khi đăng ký vào KCN sẽ phải chịu sự quản lý của các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư (quản lý KCN); Tài nguyên - Môi trường (quản lý môi trường); Công Thương (quản lý doanh nghiệp) và chính quyền địa phương (quản lý đất đai). Ngoài ra, việc phân cấp giữa cơ quan chức năng để kiểm tra năng lực tài chính và xét phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng chưa rõ ràng. Thêm vào đó có nhiều chính sách ban hành “tiền hậu bất nhất” cũng khiến nhiều nhà đầu tư e dè trong phát triển quy mô sản xuất vì khó lường trước được tương lai và ngay bản thân địa phương cũng lúng túng khi chính sách có sự thay đổi.
PV: Để đẩy mạnh thu hút đầu tư đặc biệt đối với các dự án lớn tỉnh phải có quy hoạch mang tính chiến lược, bền vững –theo đồng chí đây có phải là yếu tố mấu chốt để các KCN khởi sắc?
Đồng chí Vũ Văn Thìn: Tốc độ hình thành các KCN trên địa bàn tỉnh trong những năm qua khiến nhiều người ngạc nhiên. Từ ngạc nhiên đã đi đến khó hiểu khi KCN lập ra nhiều nhưng bỏ trống do thiếu vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, nơi làm được thì cũng không mấy hấp dẫn nhà đầu tư. Những lợi thế về giá thuê đất, tài nguyên, lao động... mà tỉnh coi như là cơ sở để phát triển các KCN đã không phát huy tác dụng, không thể bù đắp được những yếu kém và bất cập khác. Việc phát triển các KCN rõ ràng đang cần sự điều chỉnh, hoạch định mang tính chiến lược. Việc quy hoạch nhiều KCN nhưng thiếu vốn để xây dựng hạ tầng đã và đang làm giảm sự hấp dẫn trong con mắt các nhà đầu tư.
Do đó, giải pháp được coi là hợp lý nhất để thu hút đầu tư, đặc biệt với những dự án có quy mô đầu tư lớn đó là tập trung củng cố, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, dịch vụ và môi trường đầu tư các KCN hiện có. Tỉnh cũng cần giải quyết linh hoạt và kịp thời chính sách ưu đãi thu hút đầu tư. Tuy nhiên, biện pháp mang tính căn cơ là phải điều chỉnh lại quy hoạch KCN theo hướng: lâu dài, ổn định, tránh tình trạng làm theo phong trào, lẻ tẻ, thiếu tính chiến lược. Việc quy hoạch KCN cần phải gắn kết liền với lợi thế cạnh tranh từng địa phương và nên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế để hình thành những đô thị mới, những đô thị vệ tinh phục vụ cho phát triển các KCN. Yếu tố quan trọng khác là chú trọng đến cơ cấu của các KCN, mối quan hệ liên kết với nhau như KCN tập trung, cụm công nghiệp, khu dịch vụ... sao cho khắc phục nhược điểm manh mún, dàn trải.
PV: Xin cảm ơn đồng chí!
| * Toàn tỉnh hiện có 11KCN, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào danh mục phát triển các KCN Việt Nam với diện tích mỗi khu từ 150 ha đến 5000 ha. * Trong số các KCN đã được Chính phủ phê duyệt, KCN Cái Lân được hình thành sớm nhất (1997) và được đầu tư tương đối hoàn thiện về cơ sở hạ tầng. Hiện tại đã cho nhà đầu tư thứ cấp thuê tới 95% diện tích đất. Các KCN khác đang trong quá trình hoàn thiện quy hoạch hoặc đang giải phóng mặt bằng và đầu tư hạ tầng kỹ thuật. * Trong các KCN hiện có 43 dự án còn hiệu lực hoạt động, trong đó có 17 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký là 160 triệu USD và 26 dự án trong nước với số vốn đầu tư đăng lý là 5.514 tỷ đồng. * Trong 9 tháng đầu năm 2009, các doanh nghiệp đầu tư trong KCN đạt doanh thu khoảng 150 triệu USD, bằng 112% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu đạt 131 triệu USD. * Đến hết tháng 9 các KCN đã thu hút 4 dự án trong nước với tổng số vốn 101 tỷ đồng; 4 dự án nước ngoài với tổng số vốn 17 triệu USD; tăng vốn cho 1 dự án nước ngoài khác với số vốn 2 triệu USD. Tổng vốn FDI thu hút là: 19 triệu USD. * Chuẩn bị cấp gấy chứng nhận đầu tư cho 2 dự án hạ tầng KCN: Hoành Bồ và Phương Nam, với tổng số vốn đầu tư trên 1000 tỷ đồng; Dự án Thép Cái Lân và dự án Sửa chữa tàu thủy Hải Hà với tổng số vốn khoảng 2.800 tỷ đồng. |