Từ năm 2001 đến năm 2005 tổng số vốn mà ngân sách Nhà nước đã đầu tư cho các xã, phường biên giới là 301,5 tỷ đồng
Ngoài vốn đầu tư trên hàng năm tỉnh còn trích vốn chi thường xuyên để đầu tư cho biên giới, hải đảo thông qua các chính sách trợ cước, trợ giá, trợ cấp cho giáo dục, y tế, phát thanh truyền hình. Đến nay tỷ lệ phủ sóng phát thanh trên các xã biên giới đất liền đạt 80%; phủ sóng truyền hình đạt trên 60%.
Riêng các xã hải đảo nhiều năm qua bằng các nguồn vốn tỉnh đã đầu tư hơn 500 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Các công trình được đầu tư xây dựng đều là những công trình thiết yếu phục vụ cho nhu cầu, đời sống dân sinh trên đảo. Đặc biệt hai huyện đảo Vân Đồn, Cô Tô đã được đầu tư 4,5 tỷ đồng để sửa chữa nâng cấp và xây mới 8 trường với 65 phòng học; hai Trung tâm Y tế Vân Đồn và Cô Tô đã có 100 giường bệnh, 205 y, bác sỹ cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân các xã đảo. Hệ thống kênh mương thuỷ lợi, hồ chứa nước phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt đã được đầu tư hơn 22 tỷ đồng. Đến nay các huyện đều đã được phủ sóng phát thanh, truyền hình, hệ thống thông tin liên lạc ngày càng được đầu tư hiện đại nhằm nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho bà con, đặc biệt là nhân dân các xã đảo. Ngoài ra thực hiện chủ trương di dãn dân ra các đảo để xây dựng kinh tế mới, các huyện đảo đã phối hợp với các ngành chức năng đưa và tiếp nhận được 695 hộ trong và ngoài tỉnh với hơn 3.000 nhân khẩu và 1.580 lao động ra xây dựng kinh tế ở các đảo Cô Tô, Ngọc Vừng. Với chính sách đầu tư, hỗ trợ hợp lý về xây dựng cơ sở hạ tầng, giúp nhân dân phát triển kinh tế đã giúp cho những hộ ra xây dựng kinh tế mới tại các đảo yên tâm lập nghiệp, gắn bó với đảo.
Mặc dù có điều kiện thuận lợi về phát triển nông-lâm-ngư nghiệp, được quan tâm đầu tư lớn nhưng do điều kiện canh tác lạc hậu nên sản xuất nông nghiệp ở các xã miền núi, hải đảo vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, năng suất cây trồng thấp, sản lượng lương thực bấp bênh. Trước năm 2000, các xã biên giới có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên, đặc biệt một số xã tỷ lệ hộ nghèo trên 60%. Để đảm bảo tự cân đối được lương thực các cấp chính quyền, các ngành cùng với nhân dân đã tích cực đẩy mạnh khai hoang phục hoá ở những nơi quỹ đất còn bỏ hoang. Đến nay các hộ dân kinh tế mới đã tổ chức khai hoang, phục hoá được trên 2.000 ha đất nông-lâm nghiệp và đất nuôi trồng thuỷ sản. Trong 8 tháng đầu năm 2006 nhân dân các xã biên giới đã khai hoang mở rộng được 60 ha đất sản xuất, trong đó: đất lâm nghiệp 30 ha (ở các xã Hoành Mô, Đồng Văn, Hải Sơn, Quảng Đức) và khai hoang 30 ha đất vùng bãi triều Hải Hoà đưa vào nuôi trồng thuỷ sản. Năm 2005, năng suất lúa bình quân đạt 38,5 tạ/ha (tăng 12 tạ/ha so với năm 2000); các vùng sản xuất chuyên canh hàng hoá phù hợp với điều kiện tiềm năng đất đai của từng vùng được xây dựng như vùng cây ăn quả ở Đông Triều, hồi, quế ở các huyện miền Đông, cây chè ở Hải Hà, Đầm Hà. Đến nay bình quân lương thực các xã miền núi ước đạt 380 kg/người/năm, đảm bảo tự cân đối lương thực. Cùng với việc thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làmtỉnh đã thực hiện cấp bù lãi suất cho vay hộ nghèo đối với các hộ dân thuộc khu vực III; hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo... Qua tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 07 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về phát triển kinh tế-xã hội khu vực miền núi, hải đảo, trong 5 (2001-2005) toàn tỉnh có 14.150 hộ thoát nghèo, cuối năm 2005 tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí cũ ước là dưới 4%. Riêng tỷ lệ hộ nghèo ở 110 xã, phường miền núi còn 6.233 hộ. So với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh XI đã về đích trước một năm. Đối với giáo dục toàn tỉnh đã huy động được 110 tỷ đồng cho kiên cố hoá trường lớp học, xoá hết phòng học ba ca và phòng học tranh tre nứa lá.
Mặc dù tình hình kinh tế-xã hội khu vực biên giới, hải đảo có bước phát triển đáng kể, đời sống, tinh thần của bà con nông, ngư dân từng bước được cải thiện, tình hình an ninh, chính trị tuyến biên giới tương đối ổn định, song so với các vùng đồng bằng, đô thị mức chênh lệch vẫn còn rất lớn. Đặc biệt trong giai đoạn tới khi hội nhập kinh tế thế giới, việc phát triển kinh tế-xã hội khu vực miền núi, hải đảo sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy trên cơ sở các nguồn vốn đầu tư từ Trung ương như vốn Chương trình 120; biển Đông-Hải Đảo và nguồn vốn lồng ghép từ tỉnh cần có phương án huy động các nguồn lực khác tập trung đầu tư hạ tầng cho các dự án có quy mô lớn như: Cụm công nghiệp sản xuất và chế biến nông, lâm sản; Cụm dịch vụ hậu cần nghề cá Cửa Ông, Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Cô Tô… nhằm kích cầu đầu tư đối với các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh thúc đẩy kinh tế-xã hội khu vực miền núi, biên giới, hải đảo phát triển.