Khai thác lợi thế riêng cho nông nghiệp nông thôn hội nhập

Đương nhiên khi vào WTO không hoàn toàn là bị thiệt thòi, cũng không hẳn là hưởng lợi bội phần. Chỉ có điều, phải hiểu thấu đáo "luật chơi hội nhập" để sống tương thích và cùng phát triển trong một tổ chức thương mại quy tụ tuyệt đại đa số quốc gia và vùng lãnh thổ của thế giới đương đại.

Tính từ khi mở cửa đến nay (1986 - 2006) người nông dân đã chấp nhận một thị trường mở cửa cả về vật tư đầu vào và sản phẩm đầu ra mà vẫn giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh bất bình đẳng. Tuy nhiên câu hỏi trước mắt của ngành Nông nghiệp là làm thế nào để tăng lợi ích của người nông dân khi xuất khẩu nông sản và tăng khả năng cạnh tranh của nông sản để mở rộng thị trường. Ở vào thời điểm hiện nay, khi tài nguyên thiên nhiên, lao động và vốn tiếp tục chuyển từ nông nghiệp nông thôn sang đô thị, công nghiệp thì vì sự ổn định và nhu cầu phát triển bền vững cũng như các cam kết quốc tế chúng ta ngay lập tức phải khôi phục độ che phủ rừng, đóng cửa khai thác rừng tự nhiên, chấm dứt trợ cấp xuất khẩu và hạn chế trợ cấp trực tiếp cho sản xuất trong tương lai. Đây là những điều kiện rất ngặt nghèo cho sản xuất nông nghiệp khi gia nhập WTO khi mà giá đất, lao động và các tài nguyên khác sẽ tăng lên rất cao, khả năng cạnh tranh của nông sản giảm thấp. Mở rộng thị trường tất nhiên là cơ lợi tuy nhiên khó khăn thách thức sẽ rất lớn bởi hàng hoá nông sản của tỉnh ta nói riêng và cả nước nói chung chưa có chỗ đứng, vị thế trên thị trường vì vậy cần phải biết khai thác lợi thế riêng để phát triển.

Khai thác lợi thế riêng cho nông nghiệp nông thôn hội nhập ảnh 1

 Sử dụng công nghệ nuôi cấy mô và nhà lưới để ươm trồng hoa lan cao cấp tại Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học và sản xuất nông nghiệp Quảng Ninh


Trong khi các tỉnh lân cận Hải Dương, Bắc Ninh chuẩn bị cho nông nghiệp hội nhập bằng rất nhiều việc làm cụ thể như: đầu tư cao vào công nghệ sinh học để ứng dụng vào khâu giống, kỹ thuật canh tác, sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu; đẩy nhanh sản xuất tập trung, có chính sách phù hợp để hỗ trợ tạo nông dân có thói quen làm kinh tế trang trại từ đó tổ chức hiệp hội ngành nghề; khuyến khích chế biến nông sản, xây dựng nhà máy giết mổ gia súc gia cầm tập trung; thiết lập hệ thống thông tin thông suốt từ tỉnh đến thôn, xã, đầu tư mạng internet ở các điểm bưu điện văn hoá xã; rút lao động nông nghiệp để giảm sức ép về việc làm, cùng với tăng tỷ lệ cơ giới hoá nông nghiệp. Đối với tỉnh ta ngoài việc có thể áp dụng thực hiện theo những giải pháp của họ cần biết phát huy thế mạnh của một tỉnh miền núi, ven biển. Trước hết là đẩy mạnh phát triển rừng, lâm sản ngoài gỗ để tạo nguồn nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến giấy, đồ gỗ gia dụng, đồ gỗ nhân tạo, hàng thủ công mỹ nghệ. Tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ phát triển rừng, liên doanh, liên kết đầu tư các doanh nghiệp nước ngoài về trồng rừng công nghiệp tạo thói quen sự thích ứng dần của người dân miền núi với sản xuất hàng hoá, công nghệ cao. Khi phát triển vùng nguyên liệu phải gắn với cơ sở chế biến, khuyến khích các hộ nông dân đầu tư mua máy móc, thiết bị, thực hiện cơ giới hoá kết hợp phát triển lâm nghiệp với chăn nuôi, trồng trọt, chăm sóc, khai thác, vận chuyển và chế biến.

Khi gia nhập WTO chúng ta phải chấp nhận quy chế ngặt nghèo mà các nước thành viên quy định đối với các nước đang phát triển muốn gia nhập WTO phải thực hiện đó là: mở cửa các thị trường dịch vụ thu hút thêm các nhà đầu tư nước ngoài, điều chỉnh các mục tiêu đầu tư nước ngoài, tạo ra môi trường pháp lý hoàn chỉnh, minh bạch, loại bỏ các biện pháp cản trở thương mại và đầu tư không cần thiết góp phần tạo môi trường đầu tư triển vọng hơn. Theo bà Vũ Thị Tước, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ NN&PTNT) thì: WTO yêu cầu hỗ trợ cho nông dân nhiều hơn nhưng vì điều kiện kinh tế nước ta còn khó khăn nên chỉ có thể hỗ trợ doanh nghiệp để thu mua nông sản kích cầu. WTO kiểm tra định kỳ hàng năm, nếu trợ cấp doanh nghiệp vượt quá 10% sẽ bị đánh thuế phá giá. Bởi thế dù hiện tại ta đang trợ cấp doanh nghiệp dưới 10% vẫn phải điều chỉnh chính sách cho phù hợp với WTO. Hiện tại tỉnh ta đang thực hiện trợ cấp đối với các doanh nghiệp công ích để thu mua nông lâm sản cho nông dân, tuy nhiên trong tương lai việc trợ cấp này sẽ bị kiểm tra rất ngặt nghèo. Vì vậy ngay từ bây giờ cần khuyến khích nhân dân, doanh nghiệp trên địa bàn tập trung chế biến nhựa thông, tùng hương, tinh dầu để nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá xuất khẩu, bảo vệ rừng đầu nguồn, khai thác tốt lợi thế vì có vùng nguyên liệu rừng thông nhựa lớn. Thời gian vừa qua tỉnh đã có hỗ trợ cho phát triển vùng cây công nghiệp đặc sản như quế, hồi, dong riềng, chè, do vậy có thể tận dụng thế mạnh này, mở rộng thêm các vùng nguyên liệu mới để đẩy mạnh phát triển tạo vùng nguyên liệu cung cấp cho chế biến ngay tại địa bàn hoặc bán xuất khẩu cho các doanh nghiệp nước ngoài. Với đặc thù của tỉnh miền núi, giao thông đi lại còn khó khăn, dân số phân bố rải rác vì vậy cần khuyến khích nhân dânbỏ vốn đầu tư các cơ sở xay xát, chế biến nhỏ linh hoạt, phù hợp nhu cầu phục vụ tại chỗ như: sản xuất chế biến miến dong ở Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên; sơ chế bảo quản chè ở Hải Hà, Đầm Hà, Vân Đồn.

Do điều kiện đất đai manh mún, quy mô diện tích trên hộ thấp vì vậy cần đẩy mạnh phát triển ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn, chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang làm dịch vụ, phát triển làng nghề và các doanh nghiệp vừa và nhỏ để rút dần lao động nông nghiệp để giảm sức ép về việc làm. Thời gian qua phát triển ngành nghề nông nghiệp nông thôn ở tỉnh ta đã bước đầu phát triển, hình thành được một số cụm, điểm công nghiệp làng nghề ở Đông Triều, Yên Hưng, Móng Cái, Hải Hà. Toàn tỉnh hiện có 4 làng nghề có truyền thống sản xuất lâu đời như gốm sứ Cầu Đất, Vĩnh Hồng (Đông Triều); làng nghề mây tre đan ở Hưng Học (Hà Nam); trồng chè ở Quảng Long (Hải Hà), thêu, ren, dệt, đan lát, làm chiếu cói... Một số địa phương đã bắt đầu chú trọng đến việc khôi phục lại nghề truyền thống trên địa bàn và đưa thêm một số nghề mới về. Tuy nhiên sản phẩm tiêu thụ phần lớn là nguyên liệu sơ chế và sản phẩm gia công thô, chưa có sản phẩm hàm lượng công nghệ cao. Mức độ liên kết sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp cùng một ngành hàng và giữa các ngành hàng trên địa bàn nông thôn chưa chặt chẽ. Chính sách của Nhà nước, tỉnh đầu tư cho phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn chưa đúng tầm, chưa mang tính hệ thống. Do không có vốn nên hoạt động của ngành nghề nông thôn hiện nay chủ yếu tập trung ở các hộ gia đình theo quy mô nhỏ, mạnh ai nấy làm không tạo được thành làng nghề, vùng nghề để thu hút lao động nông nghiệp chuyển đổi ngành nghề. Làng nghề với những sản phẩm truyền thống, có tên tuổi, thương hiệu trên thị trường chắc chắn là một thế mạnh cạnh tranh vì vậy các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương cần nhìn nhận rõ những mặt còn tồn tại hiện nay để có giải pháp khắc phục thích hợp thúc đẩy ngành nghề nông thôn phát triển.

Để đưa nông nghiệp nông thôn hội nhập được với kinh tế thế giới, hoà được mình vào dòng chảy WTO thìlời giải không thể chỉ bằng giải pháp nông nghiệp mà cần có sự tham gia tích cực của rất nhiều ngành khác cùng thúc đẩy khai thác tiềm năng lợi thế của địa phương.

Cùng chuyên mục