Khai thác vượt quá giới hạn cho phép

Hiện nay nguồn lợi thuỷ sản vùng gần bờ giảm dần cả trữ lượng, sản lượng và kích thước, cá đánh bắt được tỷ lệ cá tạp trong một mẻ lưới tăng tới 70%. Một số loài cá vẫn đánh bắt với số lượng lớn ở vùng bờ nay đã trở nên khan hiếm như loài cá trích, tôm hùm, bào ngư, điệp và mực...

t
Với số lượng tàu khai thác gần bờ tập trung đông trên Vịnh Hạ Long khiến cho nguồn lợi thuỷ sản ngày càng bị suy giảm.
Theo điều tra của Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng trữ lượng hải sản vùng gần bờ của tỉnh ta có khoảng 40.000 tấn, để đảm bảo tái tạo nguồn lợi thuỷ sản vùng gần bờ, hàng năm chỉ cho phép khai thác khoảng 12.000 tấn, trong đó cá nổi khoảng 7.000 tấn, cá đáy 5.000 tấn. Tuy nhiên, năm 2005 sản lượng khai thác của tỉnh Quảng Ninh đạt 36.000 tấn, như vậy đã vượt 3 lần so với giới hạn cho phép.

Vùng biển tỉnh Quảng Ninh giàu về tiềm năng, phong phú về thành phần giống loài với 168 loài hải sản, thuộc 117 giống trong 69 họ (chiếm 51% so với tiềm năng hải sản Vịnh Bắc Bộ) và được xác định là 1 trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước, có nhiều bãi tôm, bãi cá sinh sản, phát triển tự nhiên như: bãi tôm vùng hòn Mỹ, hòn Miều, Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long. Vùng biển đảo Cô Tô, Vân Đồn có nhiều loài nhuyễn thể trai ngọc, bào ngư, tu hài, sá sùng, cà ghim, ngán, sò... Do sự mất cân đối giữa khai thác gần bờ và xa bờ nên nguồn lợi vùng ven bờ ở độ sâu dưới 30 m nước trở vào đã bị khai thác vượt quá giới hạn cho phép 20-30%; năng suất khai thác một số nghề chính giảm từ 30-60% so với những năm đầu thập kỷ 90; tỷ lệ thủy sản chưa trưởng thành lẫn trong một mẻ lưới vượt quá giới hạn cho phép từ 20-45%. Tỉnh Quảng Ninh có 7.130 tàu, thuyền làm nghề khai thác thuỷ sản, trong đó 96% là tàu khai thác ven bờ. Do lực lượng khai thác ven bờ tập trung quá đông nên những loài thuỷ sản quý hiếm đã bị khai thác tới mức cạn kiệt, một số loài dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng như: tôm he, cá song, cá mú và các loài nhuyễn thể (trai ngọc, bào ngư, tu hài). Theo một số chuyên gia nghiên cứu về thuỷ sản, với tốc độ khai thác như hiện nay, đặc biệt là sự mất cân đối giữa 2 lực lượng khai thác ven bờ và xa bờ, trong tương lai nguồn lợi thuỷ sản ven bờ, các nhóm cá nổi, cá tầng đáy sẽ vĩnh viễn biến mất. Hơn nữa khi giá dầu ngày càng tăng cao, các tàu không thể vươn khơi bám biển dài ngày được thì việc tàu thuyền tập trung khai thác khu vực ven bờ không giảm, thậm chí sẽ tăng lên. Nhiều hệ sinh thái tiêu biểu, nơi cư trú, cung cấp nguồn dinh dưỡng, bãi đẻ cho các loài thuỷ sản đang bị phá huỷ và đe doạ (rừng ngập mặn, cồn, rạn san hô biển, thảm thực vật đáy biển). Ngoài nguồn lợi thuỷ sản vùng nước mặn, nước lợ, nguồn lợi thuỷ sản vùng nước ngọt như cá trắm, trôi, chép ở các sông, hồ, đập chứa nước cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng.

Có một thực trạng hiện nay là lực lượng tàu thuyền khai thác tập trung vào khu vực ven bờ quá đông, khai thác mang tính huỷ diệt nhưng công tác quản lý, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản hiện còn rất nhiều khó khăn. Ông Nguyễn Văn Nam, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ nguồn lợi và Thú y thuỷ sản cho biết: Hiện nay đa số người dân không chấp hành các quy định về đăng ký, đăng kiểm tàu, sử dụng phương tiện khai thác mang tính huỷ diệt, không quan tâm đến lợi ích chung của cộng đồng. Việc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp chậm do chưa có chính sách để khuyến khích ngư dân chuyển đổi, chưa có các mô hình chuyển đổi mang tính thuyết phục để ngư dân học tập, nhân rộng. Trong khi ngư dân làm nghề khai thác ven bờ không đủ năng lực để vươn khơi hoặc chuyển đổi sang nghề nghiệp khác thì họ bắt buộc vẫn phải khai thác, tận diệt nguồn lợi ven bờ, nhiều gia đình đã bao đời sống bằng nghề khai thác thuỷ sản nên dù công tác bảo vệ nguồn lợi dẫu có được đẩy mạnh đến mấy cũng ít hiệu quả nếu không có sự chuyển đổi nghề nghiệp cho họ.

t
Các phương tiện đánh bắt gần bờ.
Mặc dù ngành Thuỷ sản đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhưng do trình độ ngư dân thấp, nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ duy trì nguồn lợi không cao, họ lại sống rải rác trên các vùng nước, vũng vịnh, bãi triều vì vậy hiệu quả của việc tuyên truyền tác động được đến ý thức của từng ngư dân thấp. Những năm gần đây ngành Thuỷ sản tổ chức mỗi năm một lần thả tôm giống ra biển với mục đích tái tạo nguồn lợi thuỷ sản nhưng số con giống được thả ra biển hoàn toàn là do vận động các trại giống tự nguyện bỏ ra, con giống được thả ra biển là xong còn sống được bao nhiêu phần trăm không thể biết. Để mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản, quỹ nuôi dự phòng, các khu rừng ngập mặn bị thu hẹp dần vì vậy đã làm mất đi không gian tự nhiên, suy thoái hệ sinh thái khiến cho các loài thuỷ hải sản không còn nơi để sinh sản tái tạo nguồn lợi. Cũng do sự mở rộng quá nhanh diện tích nuôi trồng thuỷ sản không theo quy hoạch nên không chỉ tác động đến hiệu quả lâu dài của chính nghề cá mà còn ảnh hưởng xấu đến khả năng phát triển của một số lĩnh vực khác trong vùng giầu tiềm năng phát triển đa ngành này. Nghề cá vùng ven bờ tỉnh ta mang đặc thù của nghề cá truyền thống, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, quản lí theo ngư hộ, ít đầu tư cho công nghệ và môi trường, do đời sống của cư dân ven biển nghèo, thiếu vốn đầu tư cộng với nhận thức thấp nên vẫn giữ thói quen khai thác nguồn lợi là chính chưa quan tâm đến việc sử dụng lợi ích đa dạng sinh học, trách nhiệm với môi trường. Trong khi đó công tác quy hoạch và các chính sách quản lý chưa theo kịp nhu cầu thực tế của thị trường và người dân. Mặc dù vùng bờ chứa đựng tiềm năng phát triển đa ngành, đa mục tiêu nhưng đến nay hình thức quản lý theo ngành, theo đơn vị hành chính vẫn được ưu tiên cao gây khó khăn cho việc sử dụng nguồn nước mặn, lợ, ngọt ở vùng ven bờ và trên các vùng đất ngập nước ven biển cho các lĩnh vực kinh tế khác nhau, mỗi ngành chỉ chú ý tới lợi ích ngành mình ít chú ý tới lợi ích ngành khác và toàn cục. Chính cách thức quản lý và quy hoạch như vậy đã dẫn đến chia cắt, phá vỡ chức năng vốn thống nhất và hoàn chỉnh của hệ thống tài nguyên thiên nhiên vùng bờ. Ngoài ra, sự chậm trễ, phân cách và thiếu hệ thống chính sách liên ngành để điều chỉnh và kết nối các hoạt động phát triển của các ngành cũng ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững nghề cá.

Nguồn lợi thuỷ sản có khả năng tái tạo nhưng không phải là vô tận vì vậy khai thác phải đi đôi với việc bảo vệ và phát triển, bảo vệ môi trường sinh thái. Trong điều kiện nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên bị khai thác ngày một cạn kiệt thì việc bảo vệ phát triển nguồn lợi, nuôi trồng thuỷ sản cần xây dựng, ban hành những chính sách hợp lý để khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nghề cá ven bờ; chuyển một bộ phận ngư dân có tàu nhỏ khai thác kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản và các hoạt động kinh tế khác. Muốn ổn định mức tăng trưởng của nghề cá trong thời gian dài thì các giải pháp đưa ra đều phải hướng vào việc đảm bảo tính bền vững của các hoạt động sản xuất thuỷ sản. Vùng bờ là nơi rất nhạy cảm và hiện diện nhiều hệ sinh thái đa dụng, có giá trị về hàng hoá và dịch vụ quan trọng, đặc biệt có chức năng sinh thái quan trọng không chỉ đối với chính vùng bờ mà còn đối với vùng biển khơi bên ngoài .Vì vậy khi thực hiện quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản ở vùng bờ phải lồng ghép các vấn đề môi trường sinh thái vào quá trình quy hoạch. Ngoài việc tính đến các mối quan hệ qua lại giữa các hệ tự nhiên ở vùng ven bờ liên quan tới hoạt động thuỷ sản, giữa các khu vực quy hoạch phát triển thuỷ sản với hoạt động phát triển của các ngành khác thì cần tính đến mối quan hệ giữa quy hoạch thuỷ sản với các mục tiêu xoá đói giảm nghèo cho cư dân ven biển thông qua đào tạo nghề, tạo sinh kế thay thế hoặc các chính sách khuyến khích khác.

Cùng chuyên mục