Từ năm 2004, Dự án Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) do Đại sứ quán Hà Lan tài trợ đã được triển khai thực hiện thí điểm tại xã Vạn Yên (Vân Đồn). Đây là một trong ba điểm hiện trường được chọn ở miền Bắc để triển khai thí điểm.
Mô hình trồng cây thuốc nam tại Trạm Y tế xã Vạn Yên, với 13 loài các loại hiện đang sinh trưởng và phát triển tốt. Sau hơn ba năm triển khai thực hiện, dự án đã đạt được những kết quả bước đầu. Hiện nay, Dự án đã kết thúc nhưng các mô hình vẫn đang tiếp tục được triển khai, duy trì tại các hộ dân thuộc hai thôn Đài Làng, Đài Mỏ (xã Vạn Yên) và mở ra một hướng phát triển kinh tế mới, góp phần tích cực cho việc xoá đói giảm nghèo và từng bước cải thiện, nâng cao đời sống cho người dân nơi đây. Thời gian qua, Dự án LSNG đã có những tác động tích cực tới nhận thức của chính quyền các cấp, cán bộ và nhân dân địa phương về vai trò giá trị kinh tế, sự cần thiết phải bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển nguồn LSNG để tăng thu nhập và nâng cao ý thức trong việc sử dụng các loài LSNG một cách bền vững. Thông qua các hoạt động của Dự án (tham quan học tập, tập huấn, xây dựng và triển khai thực hiện các mô hình), người dân bước đầu tiếp nhận được kiến thức khoa học kỹ thuật về làm giàu rừng, khai thác rừng bền vững; kỹ thuật nhân giống một số loại cây bằng cách ghép, gieo hạt, quy trình nuôi, trồng và kỹ thuật bảo quản, chế biến một số sản phẩm từ LSNG. Trên cơ sở đó, từng bước thực hiện các mô hình đúng kỹ thuật, khoa học và phát triển những loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao. Nhờ vậy mà công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học và bảo tồn các nguồn gieo một số loài LSNG tại địa phương (các cây bản địa) được quan tâm hơn. Qua tìm hiểu được biết, 18 mô hình thực hiện tại hai thôn Đài Làng và Đài Mỏ được xây dựng trên quan điểm lựa chọn loài cây lâm sản ngoài gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế cao cần bảo tồn, khôi phục năng suất, tăng giá trị kinh tế, tạo thu nhập cho các đối tượng nghèo, dân tộc thiểu số và người dân trong vùng. Một số mô hình đã bước đầu cho thu hoạch và mang lại hiệu quả kinh tế. Tiêu biểu là mô hình trồng nấm linh chi. Đây là mô hình nhanh cho thu nhập, nhưng đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, quy trình sản xuất nghiêm ngặt. Sau khi được tham gia các lớp tập huấn về kỹ thuật, đa số các hộ dân tham gia đã thực hiện tốt và được đánh giá là mô hình có nhiều triển vọng. Năm 2004, mô hình trồng nấm linh chi mới có 3 hộ, đến năm 2005, đã có 10 hộ tham gia và năm 2006 có 8 hộ được thu hoạch nấm, bình quân 15 kg/hộ, với giá bán từ 300.000 - 500.000đ/kg. Hiện nay, mô hình này đang tiếp tục được nhân rộng và phát triển. Bên cạnh đó, mô hình trồng và ươm ba kích cũng được đánh giá là có triển vọng, cây sinh trưởng, phát triển tốt và đang được nhiều người dân quan tâm. Mô hình ươm ba kích được triển khai từ tháng 6-2006, có 2 hộ thực hiện với 6.000 hom giống. Mô hình đã đem lại cho nhân dân địa phương một phương pháp nhân giống mới, từ đó nhân rộng được giống cây bản địa. Hiện nay mô hình trồng ba kích được 10 hộ tham gia trồng với tổng số 5.000 cây, sau 3 - 4 năm mới cho thu hoạch. Ông Đinh Văn Kim, thôn Đài Mỏ được Dự án hỗ trợ 500 cây giống và gia đình đầu tư thêm 200 cây, triển khai trồng từ tháng 6-2006. Đến nay tỷ lệ cây sống đạt 98% và sinh trưởng, phát triển tốt, cây đang ra củ. Ông Kim phấn khởi cho biết: khai thác củ ba kích tự nhiên vốn là nghề kiếm kế sinh nhai của tôi và gia đình từ mấy chục năm nay, nhưng nhờ các cấp chính quyền quan tâm, nhờ có Dự án hỗ trợ nên tôi đã bỏ nghề và tập trung đầu tư trồng ba kích tại vườn nhà. Từ việc triển khai mô hình này đã giải quyết công ăn việc làm cho 5 nhân khẩu và mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho gia đình. Mô hình phục tráng rừng mây là một trong những mô hình có nhiều hứa hẹn với tỷ lệ sống rất cao, cây sinh trưởng và phát triển tốt. Mô hình này góp phần bảo tồn nguồn mây giống bản địa đang dần cạn kiệt do khai thác quá mức, góp phần tăng thu nhập kinh tế từ rừng. Ngoài ra còn có các mô hình như: trồng tre mai; làm giàu rừng đa loài; trồng cây thanh mai được chiết từ cây bản địa; trồng cây thuốc nam với hơn 30 hộ tham gia đều là những mô hình có nhiều triển vọng mang lại kết quả khả quan và mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân xã Vạn Yên. Chị Nguyễn Thị Thanh Hà, chuyên viên Chi cục Lâm nghiệp Quảng Ninh đánh giá: Vân Đồn là điểm hiện trường có nhiều triển vọng nhất trên quan điểm hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, sản xuất và chế biến. Đây là điểm hiện trường có sự đa dạng, phong phú về danh mục cây và sản phẩm LSNG trong tương lai có nhiều hứa hẹn về phát triển làng nghề sản xuất, chế biến LSNG. Có thể khẳng định đạt được kết quả trên là do các phòng, ban chức năng tỉnh, huyện đã tích cực và có nhiều cố gắng trong công tác tham mưu và giám sát các mô hình của Dự án, mà trực tiếp là Phòng Kinh tế huyện. Để thực hiện các mô hình đạt hiệu quả, Phòng Kinh tế đã chủ động thành lập Nhóm hiện trường gồm 5 thành viên. Hình thức hoạt động của nhóm là bán thời gian, có nhiệm vụ trực tiếp hướng dẫn triển khai và giám sát các hoạt động tại hiện trường, giúp người dân thực hiện các mô hình đúng kỹ thuật, giúp Dự án có được các chỉ số giám sát đánh giá kịp thời, chính xác. Trước khi triển khai các hoạt động tại điểm hiện trường, Phòng Kinh tế đã xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết để trình Ban quản lý Văn phòng vùng Bắc phê duyệt, triển khai đảm bảo mục tiêu dự án, đáp ứng các tiêu chí: bảo tồn, phát triển, nhận thức, giá trị kinh tế và nâng cao năng lực. Hàng năm, Phòng Kinh tế đều tổ chức các cuộc họp trưng cầu tiếp nhận ý kiến đề xuất của người dân trong thôn Đài Làng, Đài Mỏ, lãnh đạo xã, thôn, cán bộ hiện trường để chọn lọc, ưu tiên xây dựng các hoạt động phù hợp với định hướng chung và mục tiêu dự án. Trên cơ sở đó, tạo điều kiện để nâng cao năng lực, sự đóng góp của các đối tượng hưởng lợi có khả năng đầu tư (hộ nghèo, hộ khá, giàu). Không những thế, các hộ dân rất tích cực và nhiệt tình tham gia thực hiện mô hình. Với mong muốn thoát nghèo, nâng cao và cải thiện cuộc sống, các hộ dân đã không ngừng học hỏi, trao đổi kinh nghiệm và thận trọng trong các bước thực hiện. Đồng chí Lê Thị Lượm, Chi cục Phó Chi cục Lâm nghiệp QN đã nhận xét: ‘’Sự thành công bước đầu của các mô hình là do có sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương; sự cần cù, chịu thương, chịu khó của người dân lao động trong vùng Dự án, đặc biệt là sự quan tâm của các điều phối viên, các cán bộ hiện trường và các chuyên gia’’...
Để các mô hình LSNG và kinh tế xã Vạn Yên (Vân Đồn) phát triển một cách bền vững, đòi hỏi các cấp, các ngành cần tích cực vào cuộc hơn nữa, phát triển theo định hướng bảo tồn và phát triển không chỉ gắn với hoạt động xoá đói giảm nghèo đơn thuần mà nên gắn với việc phát triển vùng nguyên liệu, hoạt động chế biến, thị trường đầu ra.