Một góc nhìn về môi trường đầu tư của Quảng Ninh

Ngày 14- 5- 2007 Báo Quảng Ninh đăng bài “Cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh- Thực trạng buồn nhưng không bi quan”, đã phân tích đánh giá khá sâu về thực trạng môi trường đầu tư của tỉnh. Dưới góc độ nghiên cứu, đánh giá của bạn đọc tôi xin được tham gia bài viết cùng bàn luận về vấn đề này.

>>Thực trạng: Buồn nhưng không bi quan


Thứ nhất, như chúng ta đều biết, đầu tư là hành động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại lợi nhuận trong tương lai. Trong quá trình đó môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu cho việc lựa chọn quyết định bỏ vốn của nhà đầu tư, vì vậy môi trường đầu tư có một vị trí vô cùng quan trọng. Theo nghĩa chung nhất, môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư. Có nhiều cách phân loại môi trường đầu tư, song theo nhiều nhà kinh tế, môi trường đầu tư có thể chia ra môi trường cứng và môi trường mềm. Môi trường cứng liên quan đến các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế, gồm: hệ thống hạ tầng giao thông (đường sá, cầu cảng hàng không, cảng biển, hệ thống thông tin liên lạc, năng lượng). Môi trường mềm bao gồm: hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư (đặc biệt các vấn đề liên quan đến chế độ đối xử và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại); hệ thống các dịch vụ tài chính - ngân hàng, kế toán và kiểm toán... Mọi hoạt động đầu tư suy cho cùng là để thu lợi nhuận, vì thế môi trường đầu tư hấp dẫn phải là một môi trường có hiệu quả đầu tư cao, mức độ rủi ro thấp. Điều này lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: chính sách, cơ chế ưu đãi đầu tư của địa bàn được đầu tư, điều kiện phát triển về kết cấu hạ tầng kinh tế, mức độ hoàn thiện về thể chế hành chính - pháp lý, khả năng ổn định về mặt chính trị - xã hội, độ mở của nền kinh tế, sự phát triển của hệ thống thị trường... Các nhân tố trên có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau, vì vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của môi trường đầu tư, nhất thiết phải quan tâm xử lý đồng bộ các yếu tố ảnh hưởng trên. Nêu lên khái niệm như vậy để có thể thấy rằng, việc đánh giá đúng được môi trường đầu tư có yêu cầu rất toàn diện và mang tính tương đối cao, có khi kết quả thu được qua đánh giá chỉ phản ánh được một phần, một hiện tượng chứ chưa chỉ ra được cái tổng thể, bản chất của vấn đề.

c
Khu công nghiệp Cái Lân (TP Hạ Long) một trong những địa chỉ thu hút nhiều doanh nghiệp đến đầu tư.
Thứ hai, về xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của VCCI nêu ra, đây là đề tài nghiên cứu có phương pháp đánh giá khoa học dựa trên kết quả điều tra (theo phiếu hoặc phỏng vấn) của khu vực doanh nghiệp tư nhân (chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa), song vì lý do những hạn chế về thời gian, phạm vi và đối tượng điều tra nên có sự ảnh hưởng đến chất lượng kết quả xếp loại đánh giá. Trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 8, Hội đồng Nhân dân tỉnh (tháng 7-2006) trong báo cáo giải trình của UBND tỉnh đã nêu: Ngày 1 tháng 6 năm 2006 tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) đã tổ chức hội thảo, công bố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) về môi trường kinh doanh ở Việt Nam năm 2006. Đây là cuộc điều tra độc lập, trên cơ sở chọn mẫu ngẫu nhiên đã chọn ra 31.186 doanh nghiệp trên tổng số 151.140 doanh nghiệp (thời điểm tháng 11-2005). Họ đã gửi phiếu điều tra đến 31.186 doanh nghiệp vào sau Tết Bính Tuất từ 10-02-2006 và nhận phiếu trả lời đến ngày 14-4-2006. Tổng số phiếu phản hồi nhận được 6.379 doanh nghiệp đạt 20,5%. Số phiếu nhận được chiếm tỷ lệ thấp, nên kết quả đánh giá còn hạn chế. Song dù sao cũng là kết quả đánh giá, xếp hạng về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của VCCI nên chúng ta phải quan tâm, xem xét kỹ lưỡng, đánh giá lại môi trường đầu tư của tỉnh, từ đó chỉ ra mặt mạnh, mặtcòn hạn chế để phấn đấu trong những năm sau…

Nếu chỉ qua số liệu đánh giá của VCCI mà cho rằng môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh của Quảng Ninh bị giảm sút, là đáng buồn thì chưa thật đầy đủ. Theo kết quả xếp hạng, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2006 của Quảng Ninh đứng thứ 25/64 trong khi năm 2005 Quảng Ninh được xếp thứ 7/42, tương tự như vậy Hải Phòng từ 19/42 xuống 42/64, Hà Nội 14/42 xuống 40/64, Thái Bình 8/42 xuống 37/64, Hải Dương 22/42 xuống 29/64 trong khi đó một số tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được xếp hạng có được chỉ số cao là Lào Cai xếp thứ 6/64, Yên Bái xếp thứ 12/64... Theo cách đánh giá này mà cho rằng: Môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh ở Lào Cai, Yên Bái tốt hơn ở Hà Nội, Hải Phòng hoặc Quảng Ninh là chưa thật chuẩn xác.

Thứ ba, nhìn tổng quan thời gian qua, nhất là trong giai đoạn 2001- 2006 chúng ta đều thấy rằng việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh đã đạt được những kết quả tích cực, rất đáng ghi nhận: Tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức cao và ổn định, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư nên có sự cải thiện đáng kể, đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên, công tác xoá đói giảm nghèo có tiến bộ rõ rệt, quốc phòng an ninh, trật tự xã hội được giữ vững... Đã xuất hiện các nhà đầu tư tầm cỡ trong và ngoài nước đến đầu tư cũng như đang tiếp tục tìm hiểu cơ hội đầu tư tại Quảng Ninh. Nhiều công trình, dự án trọng điểm đang được triển khai đầu tư, đó là: Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh - 1.200 MW (giai đoạn I600 MW, vốn đầu tư 9.165 tỷ đồng); Nhiệt điện Cẩm Phả - 600 MW (giai đoạn I: 300 MW, vốn đầu tư 5.406 tỷ); Nhiệt điện Mông Dương I - 1.000 MW, vốn đầu tư gần 20.000 tỷ, Mông Dương II – 1200 MW, vốn đầu tư dự kiến 1,4 tỷ USD (22.400 tỷ); Nhiệt điện Mạo Khê 440 MW vốn đầu tư 280 triệu USD (4.480 tỷ)…; các Nhà máy Xi măng Cẩm Phả vốn đầu tư 4.739 tỷ, Xi măng Thăng Long vốn đầu tư 5.218 tỷ, Xi măng Hạ Long vốn đầu tư 5.198 tỷ có tổng công suất thiết kế trên 6 triệu tấn/năm đã và đang đầu tư ở giai đoạn lắp đặt thiết bị máy móc; Dự án tuyến đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long – Cái Lân có tổng vốn đầu tư 3.991 tỷ đồng, tại Quảng Ninh là 1.002 tỷ đồng đang thực hiện; Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ Quang Trung (Uông Bí) tổng vốn đầu tư 1.200 tỷ (giai đoạn I: 585 tỷ) đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng. Điều đó chứng tỏ thu hút đầu tư của tỉnh đang có sự “bứt phá” mới.

Những nội dung nêu trên đã khẳng định vị thế của Quảng Ninh, sự quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền các cấp, các ngành của tỉnh cùng sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương trong việc thực hiện cải thiện môi trường đầu tư. Để tiếp tục thu hút nguồnlực phục vụ cho nhu cầu phát triển Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Ninh đã và đang nỗ lực thực hiện mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra là: “Phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thành một địa bàn động lực, phát triển năng động trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015”.

Cùng chuyên mục