Với diện tích 10.600km2, vùng biển Quảng Ninh có nguồn lợi hải sản phong phú hơn các vùng biển lân cận khác của Vịnh Bắc Bộ.
Trữ lượng nguồn lợi hải sản của Quảng Ninh lên tới 82.000 tấn, trong đó gần bờ là 38.000 tấn và xa bờ 44.000 tấn. Khả năng khai thác cho phép là 29.000 tấn, chiếm 35,6% so với trữ lượng, trong đó khả năng được phép khai thác gần bờ là 11.600 tấn và xa bờ là 17.600 tấn. Song nguồn lợi hải sản ở Quảng Ninh đang đối mặt với những thách thức, có thể phá hoại đến sự phát triển bền vững.
Đội tàu đánh bắt xa bờ của ngư dân Vân Đồn.
Ảnh: Hữu Việt
Những năm qua việc đánh bắt hải sản đã đạt được những thành tựu mới cả về kỹ thuật, năng suất và sản lượng. Song nhìn chung, ý thức và tính chuyên nghiệp của các lao động nghề cá ở Quảng Ninh còn có những hạn chế như trình độ học vấn thuộc diện thấp nhất so với mặt bằng xã hội, ít có kinh nghiệm đi biển. Những thuyền trưởng, máy trưởng chỉ được đào tạo qua loa ở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn từ 1 đến 2 tháng, chỉ có khoảng 5% số lao động đã qua các lớp đào tạo chính thức (773 người). Nếu tính trung bình, thì cứ 6 tàu mới, có 1 lao động đã được đào tạo. Đến nay, so với năm 1995, số tàu khai thác và tổng công suất lắp máy đều tăng lên 300% thế nhưng trên 80% tàu thuyền lại tập trung khai thác chủ yếu ở vùng nước nông ven bờ, trong khi diện tích này chỉ chiếm gần 20% vùng biển của tỉnh. Số lượng hải sản đánh bắt gần bờ hàng năm dao động khoảng 20.000 tấn, vượt quá sản lượng cho phép khai thác, đe doạ nghiêm trọng khả năng tái tạo nguồn lợi thuỷ sản của vùng biển này. Điều nguy hại là những năm gần đây, vùng biển Quảng Ninh đã phát triển nhiều nghề khai thác có tác động huỷ hại nguồn lợi ven bờ, như dùng xung điện và các nghề te, xiệc, chụp, vó... chủ yếu đánh bắt các các đối tượng hải sản chưa trưởng thành. Tình trạng khai thác gần bờ với cường lực lớn là nguy cơ làm suy kiệt tài nguyên biển. Một số loài giá trị kinh tế cao có khả năng bị tuyệt chủng như các loài thuộc họ tôm he, cá song, cá mú, cá kẽm, cá gúng và các loại nhuyễn thể như trai ngọc, điệp quạt, bào ngư.
Nhịp độ khai thác gần bờ gia tăng hàng năm đã làm hạn chế đến sự tự tái tạo của nguồn lợi biển. Các hệ sinh thái ven bờ đã và đang bị thu hẹp, xuống cấp. Tình trạng phá rừng ngập mặn (RNM), khoanh vùng đắp đập để nuôi trồng đã ngăn chặn đường di chuyển của thuỷ sản, gây nên biến động đáng kể về phân bố mùa vụ, khả năng kết đàn của nhiều loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao. Đồng thời việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản, chuyển đổi mục đích sử dụng thiếu quy hoạch ở vùng ven biển đã thu hẹp không gian cư trú gần bờ, làm suy thoái các hệ sinh thái, phá vỡ cấu trúc thành phần loài. Nhiều hệ sinh thái của biển như RNM, các cồn rạn san hô, thảm thực vật đáy biển.... là nơi cư trú và cung cấp thức ăn cho các loài hải sản cũng đang bị phá huỷ. Năm 1983 Quảng Ninh có 40.000 ha RNM, đến 2006 chỉ còn 21.737 ha. Việc tàn phá RNM diễn ra khá ồ ạt tại các vùng mở rộng quy hoạch đô thị như Hạ Long, Cẩm Phả. Trước đây cứ 1 ha RNM có thể khai thác hàng năm được từ 0,7 đến 1 tấn hải sản, thì nay chỉ thu được một nửa. Qua thống kê có đến 80% hệ sinh thái ven biển đang nằm trong tình trạng rủi ro. Do mất RNM, số lượng sinh vật phù du và sinh vật đáy tạo nguồn thức ăn cho các loài hải sản bị giảm đi đáng kể.
Từ thực tế trên, vấn đề đặt ra là việc khai thác phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái và duy trì một cách bền vững nguồn lợi. Theo đó ngoài việc phát triển các loài con giống để tái nuôi trồng và thả ra môi trường biển, vùng biển Quảng Ninh được phân định thành 8 ngư trường đánh bắt thuỷ sản, trong đó có 7 gần bờ và 1 vùng đánh bắt xa bờ. Các ngư trường gần bờ như: phạm vi các đảo Cảnh Cước - Cô Tô - Hạ Mai (735km2); Vân Đồn (153km2); Vĩnh Thực - Sậu - Mã Cháu - Đảo Trần (1.855km2)... Riêng ngư trường đánh bắt xa bờ, là vùng biển từ đảo Cô Tô tới Bạch Long Vĩ có độ sâu trung bình 38m, rộng 4.426,4km2. Đồng thời các cơ quan quản lý của tỉnh đã xác định những khu bảo tồn và xây dựng giải pháp bảo vệ phát triển nguồn lợi hải sản như: giai đoạn 2010-2015 khu vực cấm khai thác có thời hạn là vùng biển Hòn Mỹ - Hòn Miều (Hải Hà) rộng 135km2, cấm khai thác từ 15-4 đến 31-7; vùng quần đảo Cô Tô thời gian cấm từ 15-2 đến 15-7. Từ 2015 đến 2020 thực hiện “cấm biển có thời hạn” dọc tuyến ven biển suốt tỉnh, cấm các nghề giã tôm cá, chài chụp, te xiệc, cào ngao nghẹ. Thời gian cấm từ 1-4 đến 1-7. Tại vùng lõi và vùng đệm của ngư trường Vịnh Hạ Long (56,3 km2) cấm quanh năm. Xây dựng khu bảo tồn biển tại quần đảo Cô Tô - Thanh Lân - Đảo Trần. Đây là khu vực có mức độ đa dạng cao với 953 loài thuỷ sinh vật và các hệ sinh thái đặc thù như rạn san hô, vùng triều, rừng ngập mặn, hệ sinh thái đáy mềm... Ở đây có nhiều loài quý hiếm, với tính đặc hữu như 7 loài rong biển, bào ngư chín lỗ (cửu khổng), có nguồn lợi trai ngọc lớn nhất nước, bãi mực Cô Tô lớn thứ 2 sau Bạch Long Vĩ, bãi ngao hoa và ngao đỏ lớn nhất vịnh Bắc Bộ... Đồng thời Cô Tô là nơi tập trung 163 loài hải sản có thể khai thác với sản lượng lớn phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Trong tương lai, đây còn là trung tâm hậu cần nghề cá lớn nhất Vịnh Bắc Bộ.