Năm 2006, là năm đầu tiên công tác giao kế hoạch và phân khai vốn xây dựng cơ bản đến các chủ đầu tư được triển khai sớm từ giữa tháng 12-2005. Các công trình, dự án được bố trí vốn từ nguồn ngân sách tập trung chủ yếu là những công trình đã hoàn thành và công trình chuyển tiếp do vậy không mất thời gian thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư.
Trung tâm tổ chức Hội nghị tỉnh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng từ năm 2005 nhưng chủ đầu tư chưa hoàn thành thủ tục để tiến hành giải ngân. Ảnh: L.H.V
Trước tiên phải khẳng định rằng, năm 2006, công tác xây dựng cơ bản có rất nhiều thuận lợi. So với những năm trước ngoài việc giao kế hoạch sớm, nguồn vốn đầu tư chủ yếu dành cho việc thanh toán nợ đọng các công trình chuyển tiếp và công trình đã hoàn thành, một số được bố trí vào các công trình trọng điểm của tỉnh như Trụ sở liên cơ quan số II, Trung tâm chữa bệnh và giáo dục số I (Hoành Bồ), Sân vận động Hòn Gai... Ngoài ra, do nguồn vốn thu ngân sách Nhà nước tăng nên nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển xã hội cũng dồi dào hơn những năm trước, những công trình đã hoàn thành từ nhiều năm nay đã có nguồn để bố trí vốn thanh toán. Tuy nhiên, khó khăn năm nay là sau khi giao kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã phát sinh thêm 376 tỷ đồng (chiếm 39% tổng nguồn vốn đầu tư phát triển do tỉnh quản lý). Vì vậy, các chủ đầu tư bị động trong công tác triển khai thực hiện. Cụ thể: Nguồn thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng nên tỉnh đã quyết định bổ sung thêm 2 đợt vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản với tổng số vốn 226 tỷ đồng. Nguồn vốn thu từ phí bảo vệ môi trường 150 tỷ đồng cũng dành để bổ sung cho đầu tư xây dựng cơ bản. Đồng thời đây là năm thực hiện trọn vẹn Nghị định 16/CP của Chính phủ nhưng trong quá trình triển khai trên thực tế bộc lộ nhiều bất cập như: Trong phân cấp quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách tập trung TP Hạ Long được phân cấp quản lý đối với các công trình dự án không lớn hơn 5 tỷ đồng, các thị xã Móng Cái, Uông Bí, Cẩm Phả không lớn hơn 4 tỷ đồng; các huyện còn lại không lớn hơn 3 tỷ đồng. Nhưng giá trị các dự án công trình trên 500 triệu đồng phải quay về cấp tỉnh để phê duyệt thiết kế cơ sở vì vậy mất nhiều thời gian trong giải quyết thủ tục hành chính. Một số công trình giao thông mất thời gian chờ xin thoả thuận của Bộ Giao thông Vận tải. Cái khó trong xây dựng cơ bản năm nay là bắt đầu từ ngày 1-4-2006, khi Luật Đấu thầu chính thức có hiệu lực nhưng phải chờ đến tháng 10 mới có Nghị định hướng dẫn. Vì vậy, nhiều dự án, công trình gần cuối năm mới tiến hành mở thầu được.
Khách quan là vậy nhưng cần thẳng thắn thừa nhận rằng việc thực hiện khối lượng xây dựng cơ bản và giải ngân chậm nguyên nhân chính là do các chủ đầu tư, các sở, ngành, cơ quan tham mưu giúp việc cho UBND tỉnh đã không thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình. Rõ ràng các công trình, dự án mới được bố trí vốn xây dựng cơ bản năm nay rất ít, chủ yếu là vốn để thanh toán nợ đọng các công trình đã hoàn thành và thực hiện các công trình chuyển tiếp vì vậy không mất thời gian làm các bước chuẩn bị đầu tư nhưng đến cuối năm theo báo cáo của các ngành, địa phương, đơn vị, Ban quản lý dự án mới xong công tác đấu thầu và đang triển khai thi công. Theo Nghị định 16/CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kể từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án đến khi bàn giao đưa vào khai thác sử dụng. Như vậy, công trình đã được bố trí nguồn vốn ngay từ cuối năm trước mà tiến độ thực hiện chậm trách nhiệm trước hết là do các chủ đầu tư đã không vào cuộc tích cực. Có một thực tế là thời gian đầu năm các đơn vị được giao làm chủ đầu tư dường như rất “đủng đỉnh”, không xúc tiến thực hiện công việc ngay mà thường để đến cuối năm mới triển khai nên mới có tình trạng “vắt chân lên cổ chạy” cho kịp hoàn thành kế hoạch năm. Vì vậy, công tác giải ngân bị ùn vào thời gian cuối năm. Trong những năm gần đây, tại Kho bạc Nhà nước vào thời điểm trung tuần tháng 12 trở ra luôn xảy ra tình trạng các đơn vị, địa phương xếp hàng để chờ thực hiện công tác thanh quyết toán cuối năm mà phần lớn là thanh quyết toán nguồn vốn xây dựng cơ bản. Thực tế hiện nay, phần lớn các công trình xây dựng cơ bản khi giao cho các huyện, thị xã, thành phố làm chủ đầu tư thì sau đó lại giao cho Ban quản lý dự án của địa phương. Mà các Ban quản lý thường khoán gọn luôn cho đơn vị tư vấn. Một số đơn vị tư vấn do không đủ năng lực đảm nhận công trình dẫn đến nhiều sai sót về kỹ thuật, tính toán tiên lượng, áp giá sai định mức, khảo sát chưa đủ và không sát với thực tế nên phải làm đi làm lại nhiều lần khâu thẩm định thiết kế cơ sở. Do các chủ đầu tư triển khai các thủ tục hồ sơ về đầu tư xây dựng cơ bản chậm nên nhiều dự án công trình thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, vốn phí môi trường, kiên cố hoá kênh mương hiện nay vẫn đang ở giai đoạn hoàn chỉnh hồ sơ, chuẩn bị đầu tư. Có một thực tế bắt đầu từ tháng 10-2006, Chính phủ quyết định áp dụng chế độ tiền lương mới vì vậy một số chủ đầu tư đã không nghiệm thu khối lượng đã hoàn thành mà chờ áp dụng chế độ tiền lương mới để được bổ sung kinh phí cho dự án.
Nhiều công trình dự án mới trong khi chờ xin thoả thuận với các Bộ, Ngành Trung ương mất nhiều thời gian nhưng khi thoả thuận xong triển khai thực hiện lại gặp khó khăn trong giải phóng mặt bằng. Năm 2006, tỉnh quyết định triển khai đầu tư nguồn vốn phí bảo vệ môi trường xây dựng mạng lưới cấp nước phường Mông Dương (Cẩm Phả), nhưng đến tháng 11 vẫn chưa lập được thiết kế của trạm do không thoả thuận được với dân về đền bù giải phóng mặt bằng, cơ quan kỹ thuật không vào đo vẽ được. Thậm chí có trường hợp như Dự án xây dựng Nhà máy xử lý nước thải Hà Khánh (TP Hạ Long) mặc dù tiền đền bù giải phóng mặt bằng đã chuyển cho TP Hạ Long nhưng thành phố Hạ Long không thoả thuận được với người dân, không giải phóng được mặt bằng khiến tiến độ thực hiện dự án phải chậm lại gần nửa năm so với kế hoạch. Một nguyên nhân nữa khiến công tác xây dựng cơ bản bị chậm đó là tình trạng “lòng vòng” trong chuyển đổi chủ đầu tư. Điển hình năm 2006, tỉnh quyết định bố trí vốn đầu tư xây dựng cầu vượt K143+700 tại Cẩm Phả nhưng khi triển khai thực hiện phải mất nhiều lần thoả thuận, chuyển đổi chủ đầu tư. Lúc đầu Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) được giao làm chủ đầu tư nhưng lại giao về cho BQL Dự án I của tỉnh làm chủ đầu tư. Sau đó, UBND tỉnh họp và quyết định giao lại cho thị xã Cẩm Phả. Thị xã Cẩm Phả lại có công văn đề nghị chuyển về cho tỉnh vì thị xã không đủ năng lực quản lý dự án. “Vòng vèo” suốt từ đầu tháng 10 dự án mới chính thức bàn giao về cho TKV làm chủ đầu tư.
Trong khi nhiều Luật liên quan đến công tác xây dựng cơ bản mới được triển khai thực hiện năm đầu tiên nhưng các ngành chức năng như Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Xây dựng, Giao thông Vận tải, Nông nghiệp không hướng dẫn đầy đủ, chi tiết cho các chủ đầu tư, đơn vị thi công áp dụng cơ chế chính sách mới nên dẫn đến tình trạng nhiều chủ đầu tư lúng túng khi thực hiện thanh quyết toán công trình. Do không dự đoán chính xác nguồn thu nên sau 6 tháng đầu năm phát sinh 226 tỷ đồng đầu tư xây dựng cơ bản dẫn đến tình trạng bị động trong trong việc phân khai vốn xây dựng cơ bản và không chủ động bố trí vốn để xây dựng công trình lớn. Lẽ ra, ngay sau cuộc họp giao ban công tác xây dựng cơ bản 6 tháng đầu năm khi phát hiện công tác xây dựng cơ bản chậm các cơ quan tham mưu giúp việc cho UBND tỉnh phải tiến hành đôn đốc, nhắc nhở các chủ đầu tư, nghiên cứu xem xét tham mưu giúp UBND tỉnh xử lý đối với những dự án, công trình chậm thuộc lĩnh vực mình quản lý nhưng các cơ quan này dường như đã đứng ngoài cuộc.
Việc để tồn đọng lượng tiền lớn trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản tại các Kho bạc do không thể tiến hành giải ngân được trong năm nay thể hiện sự lãng phí về nguồn vốn đầu tư phát triển xã hội. Đây là bài học mà các cơ quan tham mưu giúp việc UBND tỉnh, các chủ đầu tư cần nghiêm túc rút kinh nghiệm trong thực hiện những năm tiếp theo.
------------------------------------------------------------
>>Kỳ trước: Chậm “đồng bộ”