Dự án mở rộng Cảng Cái Lân là công trình trọng điểm của quốc gia được sử dụng vốn vay phát triển ưu đãi (ODA) của Chính phủ Nhật Bản.
Cảng Cái Lân nằm ở vị trí địa lý rất thuận lợi: kín sóng gió, có tuyến nước sâu ít sa bồi, gần các tỉnh có kinh tế phát triển của đồng bằng Bắc Bộ, là một trong 3 điểm của khu tam giác kinh tế phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), với 3 cầu cảng hiện đại, thiết bị xếp dỡ đồng bộ, bến, bãi, kho hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế, cho phép khai thác đồng thời 3 tàu 40.000 DWT. Đây là cảng biển nước sâu hiện đại nhất Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay. Và Cảng được đưa vào khai thác hơn 2 năm nay, theo mô hình Nhà nước cho thuê kết cấu hạ tầng.
Bốc xếp hàng container bằng thiết bị hiện đại tại cảng Cái Lân Trên thực tế, cho thuê cơ sở hạ tầng cảng biển không phải là một mô hình mới hiện nay trên thế giới, cũng không phải quá mới mẻ ở nước ta. Hai năm nay, mô hình này được áp dụng thí điểm tại Cảng Cái Lân theo Quyết định số 228/2003/QĐ-TTg ngày 6-11-2003 của Thủ tướng Chính phủ. Qua 2 năm hoạt động theo mô hình này Cảng Cái Lân đã đạt được những kết quả bước đầu trong việc khai thác 3 cầu bến 5, 6, 7 đó là: Sản lượng hàng hoá thông qua cảng sau 2 năm thực hiện hợp đồng là trên 4,1 triệu tấn, trong đó hàng container đạt 264.663 TEUs. Tổng doanh thu cảng đạt91 tỷ đồng, lãi trên 3,8 tỷ đồng. Số lượng tàu vào cảng làm hàng đạt 567 lượt tàu. Việc khai thác kết cấu hạ tầng Cảng Cái Lân được thực hiện theo đúng quy trình công nghệ, dỡ hàng hoá nhanh chóng, an toàn và từng bước nâng cao năng suất. Tận dụng các lợi thế của Cảng hiện đại, nước sâu để khai thác các tàu cỡ lớn. Cầu tàu, kho bãi, đường giao thông, điện, nước, văn phòng làm việc, được đảm bảo và được vận hành theo đúng quy trình. Trật tự an toàn hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường được giữ vững. Trong thời gian qua, tại các cầu tàu 5,6,7 không xảy ra vụ tai nạn hàng hải nghiêm trọng nào... Cùng với đó, mô hình này đã tạo sự gắn kết quan hệ trách nhiệm, nghĩa vụ giữa người cho thuê và người thuê. Trách nhiệm của người thuê phải quản lý vận hành cơ sở hạ tầng và khai thác có hiệu quả, phải tuân thủ đầy đủ chặt chẽ các quy trình khai thác, bảo quản,bảo dưỡng tài sản thuê đúng quy trình quy phạm do chủ đầu tư, người cho thuê yêu cầu. Đồng thời khi thuê cơ sở hạ tầng, bên thuê phải tính toán xây dựng chiến lược phát triển cho cả quá trình thực hiện hợp đồng thuê. Phải năng động sáng tạo hơn, tính toán khai thác có hiệu quả cao nhất để phát triển doanh nghiệp của mình và phải đảm bảo nghĩa vụ trả tiền thuê cho Nhà nước trong suốt thời gian thuê. Đặc biệt, bỏ được cơ chế xin - cho, tạosự chủ động nâng cao tính cạnh tranh lành mạnh và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp trong khai thác kinh doanh cảng biển. Hơn nữa, mô hình này cũng giúp gắn kết quan hệ trách nhiệm, nghĩa vụ giữa bên cho thuê và bên thuê thông qua hợp đồng thuê để cùng giải quyết những vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng nhằm đảm bảo quyền lợi 2 bên. Mô hình này thực hiện đúng quy định “Ai là người bỏ vốn ra đầu tư thì có quyền thu lại vốn để tiếp tục tái đầu tư và cũng đã tách bạch được việc Nhà nước chỉ thống nhất quản lý quy hoạch xây dựng phát triển hệ thống cảng, trên cơ sở tận dụng tối đa tiềm năng thiên nhiên ưu đãi và cân đối hài hoà việc phát triển kinh tế các vùng miền của cả nước tránh đầu tư tràn lan, dàn trải gây lãng phí”. Tuy nhiên, mô hình này vẫn còn những hạn chế cần khắc phục như: Doanh nghiệp thuê không chủ động trong việc sửa chữa, hoán cải và xây dựng thêm các công trình phụ trợ trong quá trình khai thác phát sinh. Khi khách hàng có nhu cầu cần phải xây dựng bổ sung thì việc xin phép phải qua nhiều cấp làm chậm tiến độ dẫn đến có thể mất cơ hội trong khai thác; doanh nghiệp thiệt hơn về tích luỹ vốn và khi cần vay vốn lớn để phát triển mở rộng thì doanh nghiệp không thể mang cơ sở hạ tầng đó đi thế chấp vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh được. Qua 2 năm khai thác Cảng Cái Lân, đến nay có thể khẳng định mô hình doanh nghiệp thuê cơ sở hạ tầng cảng biển do Nhà nước đầu tư bước đầu có những kết quả khả quan và có thể áp dụng mở rộng ra các cảng biển khác trên toàn quốc để tạo ra sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp về lợi thế, đánh giá đúng khả năng của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cho thấy Nhà nướcchỉ nên xây dựng kết cấu hạ tầng còn thiết bị nên chuyển vốn đầu tư cho doanh nghiệp (bên thuê) để lựa chọn mua thiết bị cho phù hợp với việc khai thác.