Vào trung tuần tháng 6 huyện Đông Triều đang bước vào thời kỳ thu hoạch rộ vải quả. Trên khắp các tuyến đường liên xã từ An Sinh, Bình Dương, Việt Dân, Bình Khê, Kim Sơn... chỗ nào cũng nườm nượp người, xe vào chở vải. Trên trục đường 18A từ ngã tư Đông Triều về trung tâm mua bán vải quả ở xã Bình Khê các loại xe lạnh (bảo ôn) và xe tải các nơi về mua vải chạy suốt ngày, đêm.
Theo các chủ vườn ở An Sinh và Bình Khê tâm sự thì năm nay Đông Triều lại được mùa vải với sản lượng vải quả thu hoạch được lớn nhất từ trước đến nay. Hộ ít (vườn mới thu hoạch) cũng được một, hai tấn còn hộ nhiều (vườn rộng và có vải thu hoạch nhiều năm) có thể đạt sản lượng lên tới 8-10 tấn/hộ. Nếu ước tính chung trên địa bàn toàn huyện, riêng năm 2007 này vùng vải Đông Triều đã đạt sản lượng xấp xỉ 8.000 tấn vải tươi, trong đó sản lượng tập trung vẫn là 3 xã trọng điểm: An Sinh, Bình Khê và Tràng Lương.
Các chủ vườn chở vải ra trung tâm xã Bình Khê (Đông Triều) chờ tư thương đến mua - ảnh X.Q
Song có điều khi tâm sự với chúng tôi, nhiều chủ vườn lại tỏ ra không được vui. Một chủ vườn cỡ bự ở Bình Khê còn nói vui: Xe vào lấy vải kìn kìn liên tục như vậy nhưng giá lại rẻ như bèo! Thậm chí có người còn tặc lưỡi than rằng: “Cứ đà này không biết cây vải có trụ được lâu không?...”. Sự phân tâm của các chủ vườn không phải là không có cơ sở. Bởi lẽ giá vải tươi năm nay rất thấp. Vải chính vụ ngày đầu thu hoạch, giá bán 2.000 đồng/kg nhưng đến khi thu hoạch rộ, giá chỉ còn 1.500 đồng/kg rồi tụt xuống 1.000 đồng/kg. So với mấy năm trước, giá vải tươi ở Đông Triều bình quân đã bị tụt xuống từ 35-50%. Tôi còn nhớ cách đây mấy hôm một chủ vườn ở xã An Sinh chở vải bằng xe máy ra phố huyện bán lẻ đã bộc bạch tâm sự với mọi người: “Một tạ vải chỉ tính công thu hoạch tôi đã phải thuê người hái mất 50.000 đồng, còn chở ra phố huyện bán và bán hết thì cũng chỉ được trên dưới 100.000 đồng. Các bác thử tính xem, nếu tính chi ly trừ công chăm bón, bảo vệ, chi phí vật tư, cây con... thì lỗ hay lãi?... Chả lẽ vải chín lại không thu hoạch chứ thu hoạch mà giá rẻ như thế này còn hứng thú gì...”. Nói rồi chị ta lại tiếp tục nổ máy đi bán tiếp ở đoạn phố khác. Quả thực trạng nền kinh tế thị trường hiện nay được mùa không bằng được giá! Bởi lẽ, được mùa chẳng qua chỉ là niềm vui chớp loáng ban đầu còn được giá mới chính là niềm vui lâu bền và hiệu lực nhất đối với các chủ trang trại. Rõ ràng trong quá trình phát triển kinh tế vườn, đồi nhất là đối với cây ăn quả không phải là vấn đề đơn giản. Hơn nữa trong số các loại cây ăn quả thành vùng tập trung thì cây vải lại là cây có tính khắc nghiệt rất rõ rệt: Thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch của nó không những rất lâu (trung bình là 5 năm) mà thời gian thu hoạch và thời gian bảo quản lại rất ngắn. Cả vụ thu hoạch chỉ khoảng 20 ngày, còn vải tươi hái về thời gian bảo quản ở điều kiện bình thường cũng chỉ được một hai ngày, sang ngày thứ ba vải đã ngả màu (mất mã) xuống cấp. Theo chúng tôi nghĩ đó cũng chính là những khó khăn trắc trở lớn nhất hiện nay mà các chủ vườn không sao khắc phục được.
Cách đây 4 năm, giá vải quả ở Đông Triều không phải là không có sự dao động. Song sự biến động ấy, chỉ ở mức bình thường và không gây ảnh hưởng lớn đến tâm lý của các chủ vườn.
Khi tìm hiểu kỹ vấn đề này chúng tôi được biết, nguyên nhân chính của thực trạng trên là vào những năm từ 1998 đến 2002 ở khu vực Đông Triều đã dấy lên phong trào sấy vải khô. Các vùng vải tập trung: Bình Khê, An Sinh, Tràng Lương và các vùng phụ cận như Tràng An, Đức Chính... đều phát triển tới hàng chục cơ sở sấy vải với công suất khá lớn. Trung bình mỗi năm, các cơ sở lò sấy đã giúp các chủ vườn tiêu thụ tại chỗ lượng vải tươi từ 25 đến 30% sản lượng cả vụ. Mặt khác do duy trì được mạng lưới chế biến tại chỗ rộng khắp như vậy nên mặt hàng vải quả trên địa bàn Đông Triều không những phong phú hơn mà nó còn góp phần tích cực vào việc ổn định giá vải mỗi khi thu hoạch. Song kể từ khi có sự gian lận trong kinh doanh, cụ thể các lô vải khô lấy của Đông Triều đã bị phát hiện là đều được ngâm, phun thuốc nên toàn bộ vải khô của Đông Triều bỗng nhiên không còn chỗ đứng trên thị trường. Các thương gia ở Lạng Sơn hay ở Hồng Kông, Trung Quốc là những khách hàng nhiều năm nhập vải khô của Đông Triều đến giờ cũng đều cao chạy xa bay. Điều minh chứng rõ nhất là sang giai đoạn này, ở địa bàn Đông Triều không còn những cơ sở sấy vải khô sầm uất như trước nữa. Rõ ràng xét về góc độ kinh tế lâu dài trên toàn khu vực thì đây cũng là những thiệt hại đáng kể đối với một vùng cây ăn quả tập trung như Đông Triều. Một thực trạng nữa mà chúng tôi còn được biết là trong thời gian gần đây, do nguồn thu từ cây vải không ổn định, kém hiệu quả nên nhiều chủ vườn đã mạnh dạn chặt vải để thay thế bằng những cây ăn quả khác như nhãn, hồng, na, bưởi...
Tuy hiện tượng này chưa phải phổ biến nhưng đó cũng là những dấu hiệu báo động ban đầu về số phận cây vải-một loại cây chủ lực hiện nay của các trang trại vườn đồi. Vậy với thực trạng như hiện nay, cây vải Đông Triều liệu có trụ vững và phát triển lâu bền được không? Theo chúng tôi nghĩ đó cũng là một vấn đề thời sự bức xúc đang được đông đảo các chủ vườn ở Đông Triều rất quan tâm.
Để giữ vững được vùng vải tập trung đã được thu hoạch rộng hàng ngàn héc ta, vấn đề cấp bách hiện nay là các chủ vườn phải không ngừng nâng cao chất lượng vải quả để thu hút khách hàng, đặc biệt là việc dùng thuốc sâu phải hết sức thận trọng. Mặt khác trên địa bàn huyện cũng nên nghiên cứu khuyến khích các hộ gia đình khôi phục lại các lò sấy vải. Đành rằng việc khôi phục lại các lò sấy ở Đông Triều trong bối cảnh bị khách hàng tẩy chay là rất khó khăn. Song vì sự phát triển lâu dài của kinh tế vườn đồi nhất là đối với một vùng vải tập trung như Đông Triều là rất cần thiết.