Về xã Bình Khê - vựa vải của huyện Đông Triều những ngày này thấy thật thích mắt trước bạt ngàn những đồi vải lúc lắc quả chín đỏ rực một vùng trời, nhưng chắc chắn ai cũng sẽ cảm thấy buồn. Những người dân vùng vải thở dài ngao ngán trước một năm được mùa mà chảy nước mắt vì chuyện rớt giá.
Rất nhiều người dân chở vải đến điểm tiêu thụ nhưng lại không muốn bán vì giá quá rẻ. Đây là câu chuyện có thật, là nỗi buồn mà những hộ dân trồng vải xã Bình Khê, An Sinh đang phải gánh chịu. Lại một năm được mùa vải, cây nào cây ấy nặng trĩu quả. Mặc dù quả không to nhưng vẫn mang đậm vị ngọt lịm của vải vùng Đông Triều, thế nhưng có cây vải đã chín rũ xuống mà chủ hộ vẫn chẳng muốn bẻ hoặc bẻ không xuể. Tất cả đều do giá quá rẻ, bán như cho nên chẳng ai muốn thuê người đến bẻ. Vào đầu vụ giá vải là 3.000 đồng/kg nhưng khi vải bắt đầu chín rộ thì giá rớt xuống chỉ còn 2.000 đồng/kg. Nếu trừ công bẻ đi mỗi kg vải người trồng chỉ còn được 1.000 đồng. Bác Nguyễn Văn Tạo, thôn Đồng Dung, xã An Sinh buồn bã nói: Bán 2 kg vải mới mua được 1 bó rau muống. Trồng cây bao nhiêu năm đến ngày thu hoạch thì bán rẻ như cho. Nhà tôi có hơn chục cây ước tính được gần chục tạ mà mấy ngày nay rồi chẳng có ai đến hỏi mua, vợ tôi chạy đôn chạy đáo đến các điểm thu mua hỏi giá để thuê người đến bẻ nhưng với giá 2.000 đồng/kg thế này thì thuê người bẻ làm gì. Thời gian trước trời lại mưa kéo dài vải bị thối, mốc rất nhiều. Đến xã Bình Khê những ngày này chỉ thấy một màu đỏ phủ trên những quả đồi, vườn nhà, đã bước vào chính vụ thu hoạch vải, cây nào cây ấy nặng trĩu quả, rũ xuống ven những con đường liên thôn, xóm. 550 ha vải trên toàn xã đồng loạt chín rộ, ước tính sản lượng khoảng 7.000 tấn, nhà ít thì vài 3 cây, nhà nhiều tới vài chục cây. Chuyện vải rớt giá không phải năm nay nông dân Bình Khê mới gặp nhưng họ vẫn không khỏi buồn, xót xa trong khi tất cả các mặt hàng đều đang tăng giá vùn vụt thì quả vải mà họ phải mất bao nhiêu năm trồng, chăm bón, cả năm mới được thu hoạch 1 lần giá lại rẻ như “bèo”. Bán 1/3 tạ vải mới mua được kg thịt lợn, gần 10kg mới mua được 1kg phân, cũng số lượng như vậy mới đong được kg gạo... Vì giá quá rẻ nên nhiều hộ trồng vải không thuê người đến bẻ, họ phải huy động người nhà cùng tham gia bẻ, được bao nhiêu thì được, không thì bỏ chứ tính đi tính lại thuê người bẻ thì chỉ có lỗ vốn. Chúng tôi vào nhà anh Lê Mạnh Hùng, thôn Quảng Mản, thấy từ ngoài ngõ vào trong sân chỗ nào cũng vứt vài túm vải, trong nhà anh còn hơn 2 tạ vải đang chất ở đấy vì chưa bán được. Anh Hùng cho biết: Mọi năm giá vải cũng rẻ nhưng mà vẫn có giá trị vì dù sao 1kg vải vẫn mua được vài thứ chứ như năm nay thì 1kg vải không mua nổi 1 gói bim bim cho cháu. Có lẽ chưa bao giờ người trồng vải lại thấy buồn như năm nay. Hồi đầu năm qua đợt rét đậm kéo dài, hết mưa phùn vải mới bắt đầu ra hoa, lúc đó chúng tôi đã dự đoán trước về một năm được mùa và chuyện rớt giá nhưng quả thật cũng không thể ngờ lại rớt đến mức thảm hại như vậy. Lẽ ra trong thời điểm vật giá leo thang thế này thì giá vải dù có rẻ cũng phải 5.000 đồng/kg chứ đằng này giá chưa bằng 1/2, đấy là chưa kể bị người mua buôn ép giá, nhiều nhà ở trong đồi chở được xe vải ra, người ta chê quả xấu ép xuống còn 1.500 đồng/kg. Giờ có đoàn khách nào đến ăn hộ vải đang chín đầy trên cây kia tôi chẳng lấy tiền mà có khi còn cảm ơn đoàn khách nữa. Câu chuyện với những người dân vùng vải khiến tôi nhớ những ngày còn nhỏ, cứ đến đầu kỳ nghỉ hè là lại cùng với các anh, chị trong xóm đi “tuần tra” mấy cây vải của một số nhà trong thôn. Vải tu hú, quả to, vỏ dày, chua lòm, dù mới chỉ hơi ửng đỏ nhưng chúng tôi đứa canh, đứa trèo thế nào cũng phải hái trộm được vài quả chia nhau ăn. Ngày đó vải đúng là loại quả tiến vua, vừa hiếm vừa đắt, cả vụ mẹ tôi chỉ dám bỏ tiền mua 1 túm về chia đều cho 4 anh em, mặc dù vải tu hú, rất chua, hạt thì to, vỏ thì dày nhưng chúng tôi chẳng đứa nào lỡ ăn ngay mà phải nâng niu, để dành mãi. 10 năm trở lại đây, nhờ khoa học phát triển, kỹ thuật lai tạo ngày càng tiến bộ và được ứng dụng rộng rãi nên việc trồng những vườn vải thiều, vùng chuyên canh vải xem ra chẳng khó khăn gì với người dân vùng núi. Diện tích, sản lượng vải tăng lên nhanh chóng, bọn trẻ con vui vì được ăn thoải mái, ăn những quả vải ngọt lịm, mọng nước, hạt nhỏ. Nhưng đi cùng với đó là nước mắt, tâm sự nặng trĩu nỗi buồn của người dân vùng vải vì vải càng nhiều, giá càng rẻ, càng được mùa thì càng mất giá. Vào đầu tháng 6 là thời điểm chính vụ, người ta chở vải đi bán khắp mọi nơi. Một góc chợ cóc cũng có tới vài ba hàng bán vải, mua thoải mái, ăn thoải mái vì có lẽ đây là thứ quả rẻ nhất trong các sạp hàng bán hoa quả hiện nay. Có nên chuyển đổi cây vải? Đã có một thời nhờ cây vải mà người dân xã Bình Khê giàu lên, người ta bán vải xây nhà mới, mua sắm tiện nghi sinh hoạt đắt tiền, lúc đầu vài nhà trồng sau thì cả làng, cả xã thi nhau trồng vải. Các tỉnh khác cùng có diện tích đồi núi như vậy cũng mở rộng diện tích trồng vải, diện tích sản lượng tăng nhưng nhu cầu tiêu thụ không nhiều thế là rơi vào vòng luẩn quẩn được mùa mất giá, được giá mất mùa. ở xã Bình Khê 3 năm trở lại đây nhiều hộ đã quyết định phá vải đi trồng keo, trồng na nhưng đa phần vì tiếc công, tiếc của (cây vải chặt đi chỉ làm củi đun chứ chẳng có tác dụng gì) vì vậy nhiều hộ cố giữ lại. Nhưng vì giá bán quá rẻ nên họ không chăm bón cẩn thận như trước đây nữa, vải không được bón phân, không được phun thuốc trừ sâu nên quả nhỏ, vị chua và hầu hết đầu quả đều bị sâu. Chất lượng quả vải đi xuống nên tư thương càng có cơ hội ép giá mạnh hơn. Chuyện tìm đầu ra cho cây vải đã được huyện Đông Triều thực hiện từ năm 2004. Huyện đã tổ chức đoàn lên Lào Cai tìm kiếm đầu mối tiêu thụ vải sang Trung Quốc nhưng khi đưa được vải lên đến nơi thì phía bạn hàng ép cấp, ép giá, vải để lâu ngày hỏng không bán được. Mất đầu mối này huyện lại tổ chức cho các hộ trồng vải đi miền Nam tìm thị trường nhưng quãng đường quá xa, phương tiện vận chuyển, bảo quản không có, vải thì không để lâu ngày được khi đem vào đến nơi thâm đen, khô cỏng khô queo, thế là lại một lần thất bại. Người dân vùng vải cũng đã nghĩ đến việc sản xuất nước ép quả vải nhưng do đặc tính vải ép ra nước bị đen không bán được. Vì vậy đến nay vẫn chỉ có cách làm bảo quản truyền thống là sấy vải khô, nhưng khổ nỗi ngày xưa do thiếu chất người ta còn ăn vải khô nay vì quá thừa đường, hoa quả tươi lại nhiều nên chẳng ai muốn ăn vải khô. Ông Đinh Đức Cường, Giám đốc Công ty Dịch vụ Thương mại 3/2 huyện Đông Triều cho biết: Công ty được huyện giao nhiệm vụ tìm đầu ra cho cây vải và chúng tôi đã cử cán bộ đi khắp nơi, lăn lộn từ Nam ra Bắc, sang cả Trung Quốc rồi nhưng đành bó tay không thể tìm được đầu ra ổn định cho quả vải. Trên thực tế thì nhiều hộ dân đã phá vải đi trồng cây khác, nhiều người đã đặt vấn đề có nên để vải nữa hay không? Theo ông Ngô Thành Chiến, Phó Chủ tịch UBND huyện Đông Triều: Những năm gần đây do diện tích vải ở các tỉnh khu vực phía Bắc quá lớn trong khi đầu ra lại không ổn định vì vậy việc người dân phá vải đi trồng cây khác cũng đúng với nhu cầu phát triển kinh tế của họ. Huyện cũng đã có định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các xã chuyên canh vải, hiện đang làm thử nghiệm một số mô hình trồng cây lấy dầu, trồng na, cây lâm nghiệp trên diện tích đồi núi của xã Bình Khê, An Sinh nếu các mô hình này thành công, phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, có thị trường ổn định huyện sẽ vận động bà con chuyển đổi.
2 kg vải mua được 1 bó rau