Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một chương trình mang tính xã hội, không chỉ góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao nhận thức của người dân khu vực nông thôn, mà còn góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
Kết thúc giai đoạn II của chương trình (2006-2010), trên địa bàn tỉnh có 80% dân số nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Như vậy có thể thấy, tuy tỷ lệ dân cư được cấp nước đã đạt mục tiêu đề ra nhưng lại có sự chênh lệch đáng kể giữa các huyện. Khoảng cách chênh lệch giữa vùng có tỷ lệ dân cư được cấp nước cao nhất là Đông Triều (92%) đã vượt Bình Liêu (70%) tới 22%. Điều đáng nói là những vùng có tỷ lệ dân cư được cấp nước thấp lại là những vùng khó khăn cả về điều kiện tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội. Trên thực tế số lượng và chất lượng nước cung cấp từ nhiều công trình cấp nước hiện đang bị giảm sút như: Khe Ón (Ba Chẽ), hệ thống cấp nước tự chảy xã Quảng La (Hoành Bồ), các trạm quản lý bơm dẫn khu vực đảo Hà Nam (Yên Hưng)... nên dẫn đến tình trạng một số người đã được hưởng nước sạch lại trở thành người chưa được hưởng nước hợp vệ sinh. Thêm vào đó là việc giám sát và kiểm tra chất lượng nước chưa đúng quy định, đặc biệt là đối với công trình cấp nước nhỏ lẻ. Tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh phân bổ không đều giữa các huyện. Đạt tỷ lệ trên 70% là các huyện Đông Triều, Yên Hưng, Hạ Long, Uông Bí, Móng Cái, Cẩm Phả. Các địa phương còn lại đạt tỷ lệ thấp dưới 70% phân bố hầu hết ở các khu vực miền Đông, vùng núi, hải đảo. Theo đánh giá của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cả tỉnh vẫn còn 33% số hộ chưa có hố xí hợp vệ sinh. Đáng chú ý một số hộ sau khi xây dựng hố xí hợp vệ sinh lại không sử dụng hợp lý nên còn thiếu tính bền vững và hiệu quả chưa cao. Đặc biệt, các mục tiêu về xử lý chất thải ở chuồng trại chỉ đạt khoảng 3%. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển kinh tế nhanh, chất lượng cuộc sống người dân nông thôn nâng lên thì chất thải sinh hoạt hàng ngày cũng nhiều lên. Trong khi quỹ đất ở ngày càng thu hẹp, rác thải chưa được xử lý gây ô nhiễm môi trường đã đến lúc báo động. Mặc dù, nhiều địa phương đã tổ chức thu gom rác thải, song tỷ lệ rác thải sinh hoạt được thu gom vẫn còn rất thấp. Đặc biệt biện pháp xử lý chủ yếu vẫn là đốt thủ công và đổ lộ thiên, hầu như chưa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh và tái chế rác vô cơ. Theo dự tính, số lượng làng nghề và chăn nuôi sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới, việc xử lý chất thải làng nghề và chăn nuôi vì thế sẽ đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn. Trong giai đoạn 2011-2015, ngoài việc củng cố duy trì hoạt động các công trình cấp nước cần tập trung thực hiện tốt các dự án để đạt mục tiêu 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Về vệ sinh môi trường, 80% số hộ chăn nuôi có chuồng trại đạt chuẩn, 30% số làng nghề có hệ thống xử lý chất thải. Tất cả các trường học mầm non, phổ thông, trạm y tế xã, chợ, trụ sở xã có đủ nước hợp vệ sinh. Tổng kinh phí cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trong giai đoạn này khoảng 257 tỷ đồng. Hiện nay, vẫn còn nhiều vùng nông thôn tình trạng ô nhiễm môi trường đang ngày càng gia tăng. Việc thu gom rác thải, xử lý nước thải sinh hoạt chưa được quan tâm đúng mức. Tỷ lệ người dân nông thôn có nước hợp vệ sinh cao nhưng chưa thực sự bền vững. Bởi vậy, để hoàn thành mục tiêu giai đoạn III (2011-2015) đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực của các cơ quan chức năng, địa phương và đặc biệt là ý thức cộng đồng. Ông Phạm Minh Tân, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cho biết: “Thời gian qua, nhiều loại hình công nghệ về cấp nước cũng như công tác quản lý, khai thác và sử dụng công trình sau đầu tư đã được một số địa phương áp dụng và sử dụng hiệu quả như: Trạm cấp nước xã Phú Hải, Tiến Tới, Quảng Phong (Hải Hà). Vì vậy, giai đoạn 2011-2015, Chương trình sẽ tập trung thúc đẩy khuyến khích đầu tư và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và tính bền vững về cấp nước sạch”. Theo đó, khuyến khích khu vực tư nhân và các thành phần kinh tế khác đầu tư xây dựng công trình cấp nước thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, vốn tín dụng đồng thời có chính sách bảo hộ người đầu tư. Đặc biệt, cần phát huy nội lực của người dân nông thôn, dựa vào nhu cầu trên cơ sở đẩy mạnh xã hội hoá trong đầu tư, xây dựng và quản lý vận hành. Từng bước hình thành thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh, môi trường nông thôn, chuyển mạnh từ phương thức phục vụ sang dịch vụ theo chủ trương xã hội hoá góp phần đảm bảo tính bền vững, nâng chất lượng cuộc sống của người dân khu vực nông thôn.
Trạm cấp nước xã Đầm Hà (Đầm Hà) công suất 700m3/ngày đêm dự kiến đưa vào hoạt động vào cuối tháng 4 này.