Phát triển cây chè đòi hỏi cách làm mới

Vừa qua UBND tỉnh tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện dự án phát triển cây chè tại 2 huyện Hải Hà và Đầm Hà. Qua đây cho thấy cây chè chưa hẳn đã “hết duyên” ở các địa phương này. Tuy nhiên, muốn đưa cây chè thực sự là sản phẩm hàng hoá, cây mũi nhọn trong chiến lược chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi phải có cách làm mới.

Phát triển cây chè đòi hỏi cách làm mới ảnh 1
Chăm sóc chè ở xã Quảng Long (Hải Hà).
                                                                             Ảnh:
Vũ Công Thành

3 năm bằng 40 năm

Tháng 12- 2003, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra Nghị quyết 12 về phát triển cây chè tại 2 huyện Đầm Hà và Hải Hà, phấn đấu đến năm 2010 có 1.181 ha, tổng sản lượng chè búp tươi 9.781 tấn, tổng vốn đầu tư 57,374 tỷ đồng, trong đó tỉnh hỗ trợ cho hộ nông dân 12 triệu đồng/ha. Với chiến lược phát triển có kế hoạch rõ ràng, có “cú huých” kích cầu cho sự phát triển bằng cơ chế hỗ trợ có lẽ không địa phương nào có nên sau 3 năm triển khai thực hiện (2004- 2006) 2 huyện Đầm Hà và Hải Hà đã trồng mới được 461,87 ha chè các loại, bình quân mỗi năm trồng được gần 154 ha. Đưa tổng diện tích chè hiện có của toàn tỉnh đạt 1.100 ha, bằng tổng diện tích trồng chè 40 năm của cả tỉnh. Dự án đã thu hút sự tham gia của 1.691 hộ dân. Nhờ tập trung đầu tư chăm sóc ngay từ đầu nên đến nay huyện Hải Hà đã có trên 70% diện tích, Đầm Hà 41,5% diện tích chè trồng mới bắt đầu khép tán và cho thu hoạch, năng suất đạt 2- 4,5 tấn/ha, một số nơi thâm canh cao cho năng suất đạt trên 5 tấn/ha. Sản lượng chè tươi đạt 765- 800 tấn, doanh thu ước đạt 2 tỷ đồng. Nếu như trước đây trên địa bàn tỉnh phổ biến trồng và sử dụng giống chè trung du lá nhỏ, do nhiều năm không thực hiện việc tổ chức chọn lọc, phục tráng, đầu tư, chăm sóc kém nhiễm nhiều sâu bệnh nên một số diện tích cho năng suất, chất lượng và giá trị chè thấp, nhiều hộ nông dân phá bỏ chè chuyển sang trồng cây khác. Nhưng từ khi thực hiện Dự án các địa phương, ngành NN&PTNT đã chú trọng tuyển chọn đưa nhiều giống chè mới năng suất chất lượng cao về trồng như LDP1, LDP2, Phúc Vân Tiên, Keo Am tích, Thuý Ngọc, Ô Long, PT95 nên giá trị đã cao hơn gấp nhiều lần các giống chè cũ. Theo điều tra khảo sát bước đầu của Sở NN&PTNT cho thấy giá bán một số loại chè giống mới như Ô Long cao gấp 11 lần so với chè lai, gấp 14 lần chè trung du lá nhỏ, 2,8 lần chè Thuý Ngọc; chè Thuý Ngọc cao gấp 5 lần chè trung du lá nhỏ và chè lai. Vừa qua theo thông báo của Hiệp hội chè Việt Nam tại Lễ hội ẩm thực chè tổ chức tại Đà Lạt cuối năm 2006, giống chè Ô Long được đánh giá là giống chè có chất lượng và giá trị cao nhất, được nhiều người tiêu dùng ưa thích. Hiện nay giá trị xuất khẩu của chè Ô Long và Thuý Ngọc trên thị trường rất lớn, một số doanh nghiệp chế biến chè trên địa bàn như Doanh nghiệp Thuý Quỳnh, Công ty cổ phần chè Đường Hoa đã tập trung đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu trồng chè Ô Long tại huyện Hải Hà để chế biến xuất khẩu.

Mặc dù mới chỉ triển khai thực hiện được 3 năm nhưng có thể khẳng định chủ trương mở rộng diện tích trồng chè giống mới chất lượng cao ở 2 huyện Đầm Hà và Hải Hà là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và nhận được sự đồng tình ủng hộ cao. Đây chính là bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH- HĐH ở các huyện miền núi. Dự án đã tạo việc làm cho gần 1.700 hộ nông dân và hàng trăm hộ làm dịch vụ mua bán, lưu thông chè, tạo ra vùng nguyên liệu, hình thành một số cơ sở chế biến công nghiệp và có sản phẩm tham gia vào thị trường xuất khẩu.

Cần một tư duy làm ăn mới

Được đánh giá là khá thành công trong 2 năm đầu triển khai thực hiện nhưng sang năm thứ 3 dự án trồng chè bắt đầu chững lại. Năm 2006 cả 2 huyện Hải Hà và Đầm Hà trồng được hơn 30 ha, một số hộ dân không còn mặn mà với cây chè mà chuyển sang trồng cây khác trên diện tích đã được thiết kế để trồng chè. Trước thực trạng này nhiều người đặt câu hỏi có nên tiếp tục mở rộng diện tích trồng chè theo dự án đã được phê duyệt hay không? Và tại buổi họp sơ kết 3 năm thực hiện dự án một số hộ dân đã thẳng thắn bộc bạch với thực tế như hiện nay họ dự kiến sẽ chuyển sang trồng keo chứ không tiếp tục trồng chè nữa. Ông Phí Văn Hải, xã Quảng Lợi (Đầm Hà) cho biết: Mặc dù gia đình tôi đã thiết kế đất để trồng chè và hiện đã trồng được 1,2 ha nhưng với tình hình hiện nay cây keo đang có giá, đầu tư ít có thể gia đình tôi sẽ chuyển những diện tích còn lại sang trồng keo. Không chỉ gia đình ông Hải mà từ năm 2006 nhiều hộ dân của huyện Hải Hà, Đầm Hà đã chuyển diện tích trồng chè sang trồng keo.

Không lẽ một loại cây đem lại hiệu quả kinh tế cao và nghề trồng chè đã được xác định chắc chắn sẽ là một nghề chính ở khu vực nông thôn miền núi, được quan tâm đầu tư bằng cơ chế chính sách hỗ trợ chưa bao giờ có vậy mà người dân lại không mặn mà?. Đem băn khoăn thắc mắc này đi hỏi lãnh đạo huyện Hải Hà, Đầm Hà chúng tôi được biết: Cây chè mặc dù đã được người dân 2 địa phương này trồng lâu đời và cũng đã hình thành nên làng nghề truyền thống trồng chè nhưng chủ yếu là trồng chè giống cũ, năng suất, chất lượng thấp, vốn đầu tư ít. Phần lớn hộ dân coi việc trồng chè chỉ là nghề phụ bên cạnh nghề trồng lúa, trồng rừng nên chưa có sự đầu tư thoả đáng. Khi tham gia thực hiện dự án mặc dù đã được tỉnh hỗ trợ 12 triệu đồng/ha nhưng so với nhu cầu đầu tư của 1 ha chè chất lượng cao như Ô Long, Thuý Ngọc phải cần có thêm khoảng 32 triệu đồng nữa. Đây là số tiền quá lớn so với tiềm lực kinh tế của người dân khu vực này. Thực tế ở Hải Hà hiện nay những hộ có điều kiện, tiềm lực kinh tế thì đều đã đầu tư trồng chè từ nhiều năm trước đây nay với sự hỗ trợ của Nhà nước cũng chỉ tham gia trồng thêm một ít diện tích nữa. Những hộ chưa trồng chè chủ yếu là hộ nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn không thể có tiền đối ứng để tham gia thực hiện dự án. Những hộ đã tham gia thực hiện dự án do không có tiền mua phân bón để thâm canh chăm sóc chè, phân hữu cơ ít được sử dụng chủ yếu nặng về bón đạm, lân, ka li do vậy đất ở các nương chè bị chai cứng, thiếu lượng mùn hữu cơ, thiếu các nguyên tố vi lượng, không đủ dinh dưỡng cung cấp nên năng suất chè đạt thấp, bình quân khoảng 3 tấn/ha, chất lượng chè thấp không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nên giá bán bằng 70% giá bình quân của thế giới. Chính vì hiệu quả kinh tế đem lại không cao nên nhiều hộ dân nản lòng. Do không có quy hoạch từ đầu, đất đai đã giao hết cho dân nên khi thực hiện dự án không có đất, muốn mở rộng được diện tích hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện tham gia của người dân. Việc tốc độ triển khai dự án bị chậm lại một phần do người dân quá ỉ lại vào sự đầu tư của Nhà nước không chịu đầu tư cả công sức và tiền bạc để làm chè giống mới chất lượng cao.

Tuy nhiên, cũng theo phản ánh của bà con nông dân việc cung ứng cây giống, phân bón, nghiệm thu thanh toán của các Ban quản lý dự án chậm không đúng thời vụ. Những diện tích trồng chè còn lại chủ yếu ở khu vực cao, xa, điều kiện cơ sở hạ tầng như thuỷ lợi, đường giao thông đi lại rất khó khăn, hầu như vào mùa khô không có nước để tưới. Mặc dù trên địa bàn đã có 2 cơ sở chế biến nhưng do lắp đặt thiết bị không đồng bộ, chưa đạt tiêu chuẩn quy định về chế biến chè và bảo vệ môi trường, chưa có quy hoạch hợp lý giữa vùng nguyên liệu và nhà máy chế biến nên xảy ra tình trạng tranh mua, tranh bán, ép cấp, ép giá hộ nông dân bị thua thiệt. Hiện tại trên địa bàn 2 huyện chưa có vườn ươm tạo cây giống, đến thời vụ trồng người dân phải chờ đợi các đơn vị tỉnh ngoài cung ứng giống, các giống chè mới, chè chất lượng cao vẫn đang trong thời kỳ khảo nghiệm.

Với kết quả 3 năm triển khai thực hiện trên địa bàn 2 huyện Đầm Hà, Hải Hà cho thấy cây chè là loại cây rất thích hợp đối với thổ nhưỡng ở đây và được xác định là cây kinh tế tạo sự chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp. Tiềm năng về đất trồng chè của 2 huyện còn rất lớn (khoảng 2.000 ha), do vậy để cây chè phát triển đòi hỏi phải có cách làm mới cả trong tư duy của người trồng chè, người dân vùng dự án và công tác chỉ đạo của các Ban quản lý, các địa phương để tạo ra vùng nguyên liệu cây công nghiệp quan trọng, tạo động lực thúc đẩy nhanh tiến trình CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn khu vực miền Đông của tỉnh.

Cùng chuyên mục