Phát triển công nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường

Quảng Ninh là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản với bể than lớn chiếm trên 90% trữ lượng cả nước. Sau than là khoáng sản vật liệu xây dựng: đá vôi, sét làm xi măng, cát thuỷ tinh…được phân bố ở nhiều địa phương trên địa bàn. Với những tiềm năng và lợi thế trên, trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Quảng Ninh sẽ trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, để kinh tế phát triển bền vững thân thiện với môi trường vẫn cần phải có những giải pháp đồng bộ.

Phát triển công nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường ảnh 1
Nhà máy Xi măng Cẩm Phả nằm ngay cạnh vịnh Bái Tử Long, mặc dù được lắp đặt hệ thống lọc bụi tĩnh điện song phải được kiểm soát tốt khi đi vào hoạt động.

Vài năm trở lại đây sản lượng khai thác than của TKV ngày càng tăng (năm 2005: 28 triệu tấn; năm 2006: 30 triệu tấn; dự kiến đến năm 2010 khoảng 40 triệu tấn), trong đó than lộ thiên chiếm khoảng 70%, nếu không có giải pháp hữu hiệu để khôi phục môi trường thì nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường là điều không tránh khỏi. Mặc dù những năm qua ngành Than đã có các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường như: Nạo vét lòng hồ và cải tạo hệ thống thoát lũ Khe Cá- Hà Tu; xây dựng hệ thống kênh mương thoát nước Hà Trung, Hà Lầm, Hà Khánh;cải tạo mương thoát nước tây Khe Sim, Đông Sơn ở vùng Cẩm Phả…Cùng với việc thực hiện các công trình bảo vệ môi trường, ngành Than đã tiến hành xây dựng hệ thống đường giao thông nội bộ, quy hoạch lại các cảng bến xuất than nội địa theo đường thủy nhờ vậy đã giảm được lượng than vận chuyển qua các khu đô thị và đường quốc lộ. Các công nghệ thân thiện với môi trường cũng được ngành Than chủ động nghiên cứu và thực hiện, đó là: Sử dụng cột chống thuỷ lực trong các lò chợ khai thác nhằm giảm lượng gỗ làm cột chống từ 50-60m3 xuống dưới 30m3/1.000 tấn than khai thác; sử dụng thuốc nổ ANFO thay thế thuốc nổ TNT để loại trừ những tác nhân gây ngộ độc có trong thuốc nổ TNT. Mặc dù ngành Than đã có nhiều nỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường song các giải pháp đó vẫn mang tính tình thế, đối phó. Hiện nay nhiều nguồn gây ô nhiễm môi trường và làm suy thoái các tài nguyên thiên nhiên khác chưa được quan tâm đầu tư như cặn dầu, ắc quy, nước thải hầm lò, nước thải từ các moong khai thác, nước rửa trôi bề mặt. Môi trường sống của cộng đồng dân cư bị xâm phạm nghiêm trọng do bụi, tiếng ồn từ các hoạt động khai thác than, vận chuyển đất đá gây nên. Theo kết quả kiểm tra của Cục Bảo vệ Môi trường thì trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số đơn vị của ngành Than chưa có đầy đủ báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Đơn cử Công ty Tuyển than Cửa Ông mặc dù thực hiện tương đối tốt công tác BVMT nhưng do yêu cầu sản xuất Công ty đã nâng công suất sản xuất lên 9 triệu tấn/năm nhưng lại chưa lập báo cáo ĐTM bổ sung do cấp có thẩm quyền phê duyệt; kết quả quan trắc hàm lượng bụi và tiếng ồn trong khu vực sản xuất tương đối cao và vượt tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, hệ thống thu gom nước mưa ở khu vực bãi chứa nguyên liệu và bãi thải là mương hở, nhất là khu vực tuyển than và các hồ xử lý nước thải tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vào mùa mưa. Kết quả phân tích nước thải (bao gồm nước thải sinh hoạt, công nghiệp...) tại cống chảy qua khu vực hồ xử lý nước có hàm lượng amoniac vượt 4,2 lần tiêu chuẩn cho phép.

Có một thực tế hiện nay hầu hết các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đều nằm dọc tuyến quốc lộ và gần khu vực dân cư nên đã ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông và gây ô nhiễm môi trường. Hiện nay các nhà máy điện, xi măng có mức tiêu thụ nguyên liệu thô rất lớn, hầu hết đều sử dụng than kém phẩm chất nên độ tro thải ra môi trường lên đến 40-50%. Cùng với đó là chất thải của các chất phụ gia có hàm lượng lưu huỳnh cao, đây là chất độc nguy hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Để hạn chế việc gây ô nhiễm môi trường, nhiều nhà máy nhiệt điện đã sử dụng đá vôi trongsản xuất để khử lưu huỳnh (trung bình mỗi nhà máy nhiệt điện sử dụng khoảng 1.000 tấn đá vôi/năm). Tuy nhiên, như vậy sẽ làm tăng sản lượng đá vôi khai thác, nếu không có quy hoạch vùng khai thác tốt sẽ phá vỡ cảnh quan môi trường.

Kinh tế Quảng Ninh đang phát triển với quy mô, tốc độ ngày càng lớn, do vậy để biến những lợi thế thành nguồn lực mạnh mẽ đưa tỉnh thực sự trở thành một tỉnh công nghiệp thu hút nhiều dự án đầu tư, có vai trò xứng đáng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thì phải có những giải pháp mang tính chiến lược, đó là: Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên cần đi trước một bước theo quan điểm phát triển bền vững ở mỗi cấp, mỗi ngành với mục tiêu tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường tạo nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đai trên cơ sở quy hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước theo hướng phát triển bền vững cần sớm được rà soát. Bên cạnh đó phải kiên quyết thu hồi và điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất đối với những dự án sử dụng không hiệu quả gây suy thoái tài nguyên và môi trường. Tăng cường kiểm tra, đánh giá hiệu quả các công trình xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường theo báo cáo đánh giá tác động môi trường và bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường được phê duyệt. Đồng thời áp dụng biện pháp bắt buộc khi lựa chọn công nghệ cho các dây chuyền sản xuất sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư các dự án áp dụng công nghệ cao sử dụng tiết kiệm năng lượng, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, có như vậy mới đảm bảo hài hoà giữa phát triển công nghiệp với bảo vệ môi trường.

Cùng chuyên mục