Phát triển ngành kinh tế Thuỷ sản: Vẫn luẩn quẩn với những khó khăn, bất cập

Sau một thời gian phát triển “nóng”, vài năm gần đây tốc độ tăng trưởng của ngành kinh tế thuỷ sản bắt đầu chững lại.

Phát triển ngành kinh tế Thuỷ sản: Vẫn luẩn quẩn với những khó khăn, bất cập ảnh 1

 Tàu khai thác ven bờ tập trung quá đông tại khu vực vịnh Hạ Long.

Nếu như trong giai đoạn 2000-2003 giá trị kim ngạch xuất khẩu, tổng sản lượng thuỷ sản, số dự án đầu tư vào lĩnh vực này liên tục năm sau cao hơn năm trước thì sang giai đoạn 2004-2007 tình thế hoàn toàn bị đảo ngược; kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản liên tục không hoàn thành kế hoạch năm; tổng sản lượng thuỷ sản chỉ bằng hoặc thấp hơn kế hoạch; nhiều dự án nuôi tôm công nghiệp dần biến mất, trả lại cho địa phương những ao đầm bỏ hoang, những vùng đất bị chua phèn sa mạc hoá... Trong chiến lược biển Việt Nam, thuỷ sản được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trên con đường khai thác tiềm năng của biển. Vậy phải thực hiện những giải pháp nào để đưa thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mạnh ở một tỉnh giàu tiềm năng biển như tỉnh ta?

Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2007 của UBND tỉnh: Giá trị tăng thêm của ngành nông - lâm - ngư nghiệp là 0,5% trong khi kế hoạch năm là 4 - 4,5%. Riêng đối với ngành Thuỷ sản trong 6 tháng đầu năm tổng sản lượng thuỷ sản thực hiện đạt 45% kế hoạch năm, một số chỉ tiêu chính như khai thác, nuôi trồng, giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt thấp. Mặc dù những năm qua ngành Thuỷ sản đã có rất nhiều cố gắng trong củng cố sắp xếp lại hoạt động như: Tổ chức lại lực lượng khai thác; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và quản lý chất lượng con giống, kiểm tra giám sát vùng nuôi; đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 loại hình mặt nước mặn, ngọt, lợ; xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành, quy hoạch chi tiết 18 vùng nuôi tập trung; triển khai thực hiện cơ chế một cửa cải cách thủ tục hành chính nhằm thu hút nhà đầu tư vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong phát triển ngành hiện nay nổi cộm lên rất nhiều bất cập, tồn tại đó là: Khai thác thuỷ sản ven bờ phát triển quá mức so với nguồn lợi, khai thác xa bờ gặp khó khăn do chi phí xăng dầu cao. Toàn tỉnh hiện có hơn 7.000 tàu khai thác thuỷ sản với hơn 30.000 ngư dân sống chủ yếu bằng nghề khai thác, nhưng chỉ có hơn 300 tàu khai thác xa bờ còn lại là tàu khai thác ven bờ và tàu thu mua thuỷ sản. Chính vì sự tập trung quá lớn lực lượng khai thác ở khu vực ven bờ đã gây nên sự mất cân bằng về nguồn lợi, ô nhiễm vùng ven bờ, khai thác mang tính huỷ diệt. Ngành Thuỷ sản đã xây dựng đề án chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp cho lực lượng khai thác ven bờ nhưng việc triển khai thực hiện xem ra lại quá chậm do vướng mắc ở rất nhiều khâu như: Chưa có chính sách để khuyến khích ngư dân chuyển đổi, chưa có các mô hình chuyển đổi mang tính thuyết phục để ngư dân học tập, nhân rộng. Khai thác xa bờ do lao động qua đào tạo ít, dựa vào kinh nghiệm là chính nên sản lượng và năng suất khai thác thấp.

Với tốc độ khai thác như hiện nay, đặc biệt là sự mất cân đối giữa 2 lực lượng khai thác ven bờ và xa bờ, trong tương lai nguồn lợi thuỷ sản ven bờ, các nhóm cá nổi, cá tầng đáy sẽ vĩnh viễn biến mất. Hơn nữa khi giá dầu ngày càng tăng cao, các tàu không thể vươn khơi bám biển dài ngày được thì việc tàu thuyền tập trung khai thác khu vực ven bờ không giảm, thậm chí sẽ tăng lên. Nhiều hệ sinh thái tiêu biểu, nơi cư trú, cung cấp nguồn dinh dưỡng, bãi đẻ cho các loài thuỷ sản đang bị phá huỷ và đe doạ như: Rừng ngập mặn, cồn, rạn san hô biển, thảm thực vật đáy biển. Ngoài nguồn lợi thuỷ sản vùng nước mặn, nước lợ, nguồn lợi thuỷ sản vùng nước ngọt như cá trắm, trôi, chép ở các sông, hồ, đập chứa nước cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng.

Nuôi trồng thuỷ sản hiện đang đứng trước vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng từ chính hoạt động phát triển nội tại của mình. Nguyên nhân đầu tiên là do sự tàn phá những diện tích rừng ngập mặn để làm đầm nuôi tôm, cua, cá. Toàn tỉnh hiện có hơn 11.000 ha nuôi tôm trong đó khoảng 30% diện tích là nuôi ở những khu vực có rừng ngập mặn. Phá rừng ngập mặn ở trong 11 đầm và cả các cây ở ngoài bờ đầm không chỉ làm mất hàng rào bảo vệ chống xói lở mà còn làm mất nơi ở, cung cấp thức ăn cho nhiều loài hải sản và sinh vật khác. Các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật về môi trường, xử lý chất thải. Việc thải chất dinh dưỡng, chất hữu cơ và chất độc vi sinh vật (có cả mầm bệnh) đã gây ô nhiễm môi trường nước rất lớn. Theo quy hoạch đến năm 2010 toàn tỉnh phấn đấu đưa diện tích nuôi công nghiệp lên 10.000 ha thì lượng nước thải ước tính sẽ lên tới 300 triệu m3/năm. Với lượng nước thải lớn như vậy nếu không có biện pháp xử lý trước khi thải ra môi trường sẽ gây ô nhiễm rất lớn và trên diện rộng. Hiện nay một số chủ đầm nuôi sử dụng hoá chất để diệt hại, xử lý nước, phòng dịch bệnh bừa bãi, sử dụng hoá chất cấm, không rõ nguồn gốc, dùng thuốc không đúng hướng dẫn đe doạ đến sự bền vững của vùng nuôi, chất lượng sản phẩm, sức khoẻ của người nuôi và môi trường xung quanh.

Thêm một khó khăn mới đối với ngành Thuỷ sản trong việc tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu đó là các rào cản kỹ thuật đang được các nước dựng lên để kiểm soát gắt gao sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam. Đặc biệt thị trường Nhật Bản - một thị trường truyền thống đã chính thức ra thông báo không nhập thuỷ sản Việt Nam vì phát hiện dư lượng kháng sinh trong sản phẩm quá cao. Thực tế là vậy nhưng hoạt động thanh kiểm tra thú y thuỷ sản hiện quá yếu, từ nguồn giống, thức ăn, chế phẩm sinh học phục vụ trong nuôi trồng thuỷ sản, kiểm soát môi trường ao nuôi, cơ sở chế biến. Ngoài ra còn hàng loạt khó khăn bất cập khác như: Chưa chủ động sản xuất được giống cá biển, nhuyễn thể, cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá quy mô nhỏ, manh mún, chính sách hỗ trợ phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản còn nhiều khó khăn...

Trong chương trình chiến lược biển của tỉnh đã xác định riêng đối với ngành Thuỷ sản tập trung vào thực hiện các giải pháp: Nuôi trồng thuỷ sản theo hướng tập trung, thâm canh, bán thâm canh có áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ ở vùng bãi triều; hạn chế việc nuôi quảng canh, phát triển nuôi cá lồng bè ở vùng xa bờ, xa khu bảo tồn di sản Vịnh Hạ Long, theo công nghệ nuôi lồng Na Uy ở vùng Vân Đồn, Cô Tô và các vùng biển khác của Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà, Móng Cái. Phát triển mạnh nuôi trồng nhuyễn thể như: Tu hài, hầu, ngao, sò... vừa bảo vệ môi trường vừa có hiệu quả kinh tế cao. Củng cố, nâng cao hiệu quả đánh bắt gần bờ để ổn định và nâng cao đời sống của ngư dân. Tiến hành tổng kết đánh giá kết quả chương trình đánh bắt xa bờ, để đưa ra giải pháp thích hợp tiếp tục phát triển lực lượng đánh bắt xa bờ trong các năm sau, tiến tới vươn ra vùng biển quốc tế. Nâng cao năng lực chế biến thuỷ sản ở các cơ sở hiện có theo hướng đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm, tạo ra hàng hoá đủ sức cạnh tranh ở thị trường hải sản quốc tế. Tiến hành khảo sát nghiên cứu đầu tư xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá, chợ cá ở Vân Đồn, Cô Tô và các bến cá ở các đô thị ven biển.

Tuy nhiên, đó là những giải pháp về lâu dài còn trước mắt, để hạn chế những khó khăn ngành Thuỷ sản cần kịp thời có những biện pháp khắc phục những tác động từ chính quá trình phát triển của ngành gây ra. Tăng cường kiểm tra kiểm soát môi trường vùng nuôi thuỷ sản tập trung nhằm phát hiện và kịp thời khống chế dịch bệnh lây lan, đa dạng hoá loại hình và đối tượng nuôi theo hướng bền vững phù hợp điều kiện tự nhiên và đáp ứng nhu cầu thị trường. Sắp xếp lại lực lượng khai thác thuỷ sản, xây dựng ngay mô hình chuyển đổi hiệu quả để ngư dân học tập làm theo.

Cùng chuyên mục