Quan hệ thương mại Việt- Trung: “Bất bình đẳng”

Thâm hụt thương mại gia tăng nhanh chóng, bất hợp lý trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu đang là những nhân tố đẩy “quan hệ thương mại VN- Trung Quốc ngày càng trở nên bất bình đẳng hơn” đánh giá của chuyên gia kinh tế- TS.Lê Đăng Doanh.

Với tiềm lực “khổng lồ” của một nền kinh tế tăng trưởng trên hai con số, Trung Quốc (TQ) đang nhanh chóng trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của hàng loạt quốc gia trong khu vực: Nhật Bản, Hàn Quốc... trong đó có VN. Tuy nhiên, theo TS. Lê Đăng Doanh, “cơ hội mà sự phát triển của TQ đem lại chỉ thực sự đến với những nước biết tận dụng”. Còn với VN, “chúng ta chưa biết cách nắm bắt, tận dụng những lợi thế lý tưởng” mà người láng giềng khổng lồ này đem lại. “Chúng ta tiến khá nhanh, nhưng khoảng cách giữa VN và TQ vẫn đang ngày càng dãn ra”.

Chỉ tính riêng sức mua hấp dẫn của thị trường 1,3 tỷ dân TQ đã mở ra cơ hội vô cùng to lớn cho hàng xuất khẩu thế giới. Mỗi năm, TQ nhập khẩu từ 600- 700 tỷ USD hàng hoá. Tuy nhiên, VN không những chưa tìm đựơc kế sách lấn sâu vào thị trường rộng lớn này mà ngược lại còn bị hàng hoá TQ “xâm lăng”, tràn ngập thị trường.
Thâm hụt thương mại vì vậy cũng gia tăng chóng mặt. Chỉ tính đến đầu năm 2007, mức thâm hụt thương mại của VN đã vượt ngưỡng 200% xuất khẩu của VN sang TQ. Theo số liệu thống kê của Hải quan VN, năm 2006, chúng ta nhập của TQ hơn 7,39 tỷ USD và xuất sang TQ hơn 3,03 tỷ USD. Với chênh lệch quá lớn này, mức độ nhập siêu của VN năm 2006 lên tới 176,2%. Chưa kể, nếu tính cả thương mại dịch vụ (ngân hàng, du lịch, viễn thông... ), “chắc chắn mức thâm hụt thương mại của VN còn cao hơn số liệu đựơc ngành Hải quan công bố rất nhiều”- TS. Lê Đăng Doanh nhận định.

Dự báo, trong những năm kế tiếp, cam kết vào WTO buộc chúng ta phải giảm thuế hàng công nghiệp và nông sản, hơn nữa với lợi thế “núi liền núi, sông liền sông”, “luồng hàng XK của TQ sẽ còn tràn ngập thị trường VN nếu chúng ta không có đối sách thích hợp” – chuyên gia kinh tế này cảnh báo. 

Theo ông, không chỉ thâm hụt thương mại về số lượng mà cơ cấu hàng XNK cũng cho thấy “chất lượng trao đổi thương mại giữa hai nước đang ngày càng bất lợi cho VN”. Tính toán của Viện nghiên cứu thương mại cho thấy, giá trị các sản phẩm chế tác của VN xuất sang TQ chỉ chiếm khiêm tốn từ 8- 9% tổng XK. Trong khi, các sản phẩm nguyên liệu thô, giá trị gia tăng thấp chiếm tới 90% giá trị hàng VN xuất sang TQ.

Quan hệ thương mại Việt- Trung: “Bất bình đẳng” ảnh 1

Chúng ta xuất khẩu than nhưng lại nhập khẩu điện- một nghịch lý

Chúng ta hiện nhập những sản phẩm chế tác, có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao hơn do TQ sản xuất (xăng dầu các loại, máy móc thiết bị, sắt thép các loại, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, máy vi tính, điện tử, linh kiện...). Điều đáng nói là trong đó có không ít sản phẩm sử dụng nguyên liệu của VN: ruột, vỏ xe sử dụng cao su, xăng dầu được lọc từ dầu thô, điện sử dụng than... Nghịch lý xuất khẩu than- nhập khẩu điện, xuất khẩu bông- nhập khẩu vải... “đang đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về sự phát triển của nền kinh tế VN”.

Vào WTO đồng nghĩa với chấp nhận cạnh tranh bình đẳng. Theo TS. Lê Đăng Doanh, không chỉ VN mà “cả thế giới cũng khó cạnh tranh với hàng loạt sản phẩm có lợi thế của TQ như may mặc, da giày, hàng điện tử dân dụng...”. Tuy nhiên, chính sức ép cạnh tranh của hàng hoá TQ sẽ buộc các doanh nghiệp VN tự trưởng thành, không ngừng đổi mới để đủ sức “sinh tồn”.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN “nội”, theo chuyên gia này cần mở cuộc tổng động viên: “các nhà khoa học, cơ quan hoạch định chính sách, các viện nghiên cứu nghiêm túc hợp tác với doanh nghiệp”. Trong đó, việc phân khúc thị trường, tìm lợi thế cạnh tranh bằng chất lượng đang mở ra nhiều khả năng to lớn cho hàng Việt tạo lập thế đứng tại thị trường nội địa và cả thị trường TQ.

Cùng chuyên mục