“Nhiều năm gần đây nguồn thu từ việc khai thác sá sùng của xã Quan Lạn (Vân Đồn) luôn đạt từ 6-8 tỷ đồng. Đào và sơ chế sá sùng đã trở thành một nghề chính, đem lại thu nhập cao, ổn định cho phần lớn người dân nơi đây” - Đó là lời tâm sự của anh Nguyễn Chúc Cường, Chủ tịch UBND xã Quan Lạn khi anh nói với chúng tôi về tình hình phát triển thuỷ sản của địa phương.
Hiện nay trên địa bàn xã có 2 nghề được ngư dân xem như “hái ra tiền” là thu vớt sứa và đào sá sùng. Nếu như nghề khai thác sứa phải đầu tư bè, mảng khoảng trên dưới 50 triệu đồng cho một phương tiện, lao động phải có sức khoẻ, cường độ lao động lớn và chỉ khai thác theo mùa vụ khoảng 2 tháng trong năm thì ngược lại, người khai thác sá sùng chỉ cần một chiếc thuổng, cái giỏ hay thậm chí một cái chậu con cũng đủ làm phương tiện khai thác, công việc thì nhẹ nhàng, chỉ đòi hỏi sự khéo léo, nhanh nhẹn và có thể khai thác quanh năm. Vì vậy, cả xã có 8 thôn với gần 800 hộ thì 7/8 thôn có bãi triều có thể khai thác sá sùng với tổng diện tích khai thác lên tới vài trăm ha; nhà nào cũng có một hoặc vài người làm công việc này mang lại nguồn thu nhập chính cho gia đình. Hàng ngày trên các khu vực bãi triều của địa phương ước tính có đến 500-600 người đi đào sá sùng, trong đó trên 90% là phụ nữ và trẻ em.
Buổi chiều, khi mặt trời sắp tắt bóng hay buổi sáng khi mặt trời lên là lúc người dân xã đảo Quan Lạn đổ xô ra các bãi triều đào sá sùng. Theo họ khi nước triều lên sá sùng đi kiếm ăn và sẽ để lại dấu vết trên cát khi nước rút, lúc đó chúng chưa rúc sâu xuống cát, chỉ cần đào từ 15-20cm là có sá sùng. Tại mỗi khu vực bãi triều có đến vài chục người tay giỏ, tay thuổng đang thực hiện một công việc xem chừng chỉ gồm hai công đoạn đào và nhặt, nét mặt không biểu lộ sự vất vả khó nhọc. Tuy nhiên, không nặng nhọc vất vả không có nghĩa là dễ dàng, ai cũng làm được bởi đào sá sùng phải có kinh nghiệm và sự khéo léo từ việc tìm tổ đến cách đào để tránh việc sá sùng bị đứt, bước đi tránh động để sá sùng khỏi lẩn mất. Cùng đi đào sá sùng nhưng có người được nhiều, có người được ít và có cả những người không được gì. Sau khoảng 2-3 giờ lao động, bán lại cho những điểm thu mua, trung bình mỗi người có thể mang về 300-400 nghìn đồng, người đào giỏi có thể được 700-800 nghìn đồng. Mỗi ngày, hàng trăm kg sá sùng tươi được đem về từ các bãi triều, một phần nhỏ được bán trực tiếp cho các nhà hàng, quán ăn để nấu các món đặc sản, còn phần lớn được các cơ sở sơ chế thu mua với giá từ 90.000-150.000 đồng/kg, tuỳ theo loại sá sùng to hay nhỏ. Chị Nguyễn Thị Nguyên, thôn Đông Nam, chủ một cơ sở sơ chế sá sùng cho hay: Trước kia do không có vốn nên gia đình tôi cũng chỉ đi đào mồi bán lại cho người khác. Khi đã có vốn tôi quay sang thu mua thêm mang về chế biến nhằm bán lại với giá cao hơn. Hôm nay trời rét, người đi đào mồi đào được ít nên tôi mua không được nhiều. Có những hôm vừa đi đào, vừa thu mua được khoảng 80-90kg với giá từ 90-150.000 đồng/kg. Bình quân cứ 8-9kg tươi, loại to; 10-12kg tươi loại nhỏ sau khi sơ chế mới được 1kg, bán với giá từ 1,7-1,8 triệu đồng/kg; có những lúc cao điểm bán được trên 2 triệu đồng/kg. Hiện tại trên địa bàn xã có gần 20 cơ sở sơ chế sá sùng, trung bình mỗi cơ sở thu mua hàng chục kg/ngày. Sá sùng sau khi được sơ chế hầu hết được bán cho khách du lịch, các nhà hàng, khách sạn trong nước và xuất ra nước ngoài qua đại lý thu mua lớn.
Người dân ở đây vẫn gọi sá sùng bằng một cái tên quen thuộc: Con mồi. Cụ Phạm Thị Hợi (gần 80 tuổi) thôn Sơn Hào cho biết: Sở dĩ có tên gọi con mồi là do ngày trước người dân ở đây chuyên đào sá sùng đem bán cho người Hoa kiều làm mồi câu cá và con sá sùng có tên gọi con mồi là vậy. Đến nay, khi sá sùng đã trở thành một đặc sản có tiếng thì người dân nơi đây vẫn quen gọi bằng cái tên con mồi. Cụ Hợi còn cho biết thêm: Bãi mồi từ lâu đã gắn bó với người dân địa phương. Con mồi không những cứu sống người dân thoát khỏi nạn đói kém mà còn là thực phẩm góp phần nuôi sống bộ đội đóng quân trên đảo trong những năm kháng chiến chống Pháp. Mặc cho trên trời pháo sáng rọi, dưới bãi triều người dân vẫn đi đào mồi nuôi quân. Còn anh Phạm Văn Toàn, Chủ tịch Hội Nông dân xã, một người đã có thâm niên vài chục năm trong nghề đào mồi thì tâm sự: Ngày còn nhỏ tôi thường cùng các anh chị đi đào mồi phụ giúp gia đình. Khi đó mồi nhiều mà không có giá như bây giờ; mỗi buổi đi đào được hàng chục kg đem cân cho hợp tác xã nhưng giá trị chẳng được bao nhiêu. Lắm hôm, do người dân đem cân quá nhiều, HTX không thu hết là khi đó phải mang về ăn trừ bữa. Rồi sau này khi con mồi trở thành đặc sản, thương vợ vất vả sớm tối đi đào mồi tôi cũng vác thuổng đi giúp vợ nhưng do đào không giỏi và mồi thì không nhiều như trước kia nên tôi đào không được bao nhiêu.
Các bãi sá sùng đã mang lại nguồn lợi hàng tỷ đồng mỗi năm cho người dân xã đảo. Nhiều gia đình đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ nguồn lợi này. Tuy nhiên, theo chính quyền và những người dân ở đây thì sá sùng đang có nguy cơ cạn kiệt, mặc dù thu nhập cao nhưng lượng sá sùng đào được mỗi ngày một ít đi. Nguyên nhân là do nghề đào sá sùng không đòi hỏi đầu tư về phương tiện, từ người lớn đến trẻ em đều có thể vác mai xách giỏ ra bãi, gần như 100% người dân đều đi đào sá sùng quanh năm. Bên cạnh đó, hiện nay tình trạng xiếc điện bắt tôm trên bãi cũng là nguyên nhân khiến sá sùng có nguy cơ cạn kiệt do bị chết và không sinh nở được. Trước tình trạng này, chính quyền địa phương đã tính đến nhiều phương án để bảo vệ nguồn lợi sá sùng, tránh nguy cơ cạn kiệt, song vẫn chỉ là những ý tưởng. Hiện tại, xã đang tuyên truyền cho người dân khai thác theo mùa, tránh khai thác vào thời điểm sá sùng đẻ trứng. Tuy nhiên, việc tuyên truyền này xem ra không hiệu quả vì giá trị của sá sùng đang có sức hấp dẫn lớn đối với người dân. Đây đang là một bài toán khó cho chính quyền địa phương, làm sao hài hoà được giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi một cách hiệu quả, bền vững.