Sữa tươi và người nuôi bò sữa

Có một thời người ta quảng cáo và ca ngợi hết lời sữa bột tổng hợp nuôi trẻ em, nào là “cân đối dinh dưỡng”, nào là giải phóng phụ nữ. May có “phát hiện” của ngành y tế, nêu lại kinh nghiệm của các cụ xưa, đề xướng phong trào “nuôi con bằng sữa mẹ” mà sữa tươi lại được lên ngôi.

Dù sao xã hội phải cảm ơn ngành y tế về “sáng kiến” trên, tuy biết rằng cái việc mẹ cho con bú đã được các bà nông dân làm từ ngàn xưa. Một lần nữa người ta lại nghiệm thấy con đường dẫn đến văn minh tiến bộ bao giờ cũng đi theo hình xoắn trôn ốc! Giờ đây, rất nhiều người biết sữa tươi quý đến chừng nào, người nông dân nuôi bò sữa nước ta sẽ được nhờ. Song, gần đây dư luận nói nhiều đến chuyện sữa tươi. Không phải bàn chuyện sữa tươi hay sữa bột, sữa nào bổ hơn, mà chủ yếu nói đến chuyện nông dân nuôi bò sữa bị lỗ, vì giá mà các nhà máy trả cho nông dân  quá thấp. Người ta cũng nêu lên chuyện nhiều công ty chế biến sữa đã không minh bạch trong việc in nhãn mác, viết là “sữa tươi tiệt trùng nguyên chất”, nhưng trong sản phẩm có quá nhiều sữa bột.

Khi phát triển ngành nuôi bò sữa ở nước ta, người ta đã tính đến những điều bất lợi, nào là thời tiết nóng ẩm không phù hợp với nuôi bò sữa cao sản, nào là giá thức ăn tinh ở nước ta thường đắt gấp rưỡi các nước lân cận. Đã thế, giá sữa bò tươi thu mua ở nước ta lại thấp nhất trong vùng. Ai cũng biết khoảng chục năm trở lại đây, trong khi giá các loại hạt làm thức ăn tinh đã tăng gấp rưỡi, thì giá sữa tươi mua của nông dân tăng không đáng là bao, loanh quanh cũng chỉ dưới 4.000đ/lít. Nông dân nuôi bò sữa nhận ra rằng nghề của mình chẳng có mấy sức mạnh trên thị trường. Người ta bất bình trước việc nhãn mác không minh bạch, bởi trong khi các đơn vị chế biến sữa không chịu nâng giá mua sữa tươi cho nông dân, họ lại dán nhãn “sữa tươi nguyên chất” để thu hút người tiêu dùng. Dư luận đòi hỏi phải kiểm soát nghiêm việc ghi nhãn mác để người tiêu dùng lựa chọn, qua đó làm tăng giá trị của sữa tươi, để giá thu mua sữa tươi chí ít cũng phải được nâng lên như giá ở các nước lân cận (khoảng 20%). Tất nhiên là sữa tươi sản xuất cũng phải bảo đảm thành phần và chất lượng vệ sinh. Nhưng, đòi hỏi chính đáng về tăng giá sữa tươi thu mua không thể giải quyết bằng biện pháp hành chính, mà phải qua cạnh tranh chất lượng và giá thành. Quả là không dễ dàng đối với người chăn nuôi nhỏ khi mà công nghiệp chế biến sữa của nước ta không phụ thuộc vào sữa tươi, mà chủ yếu là sữa bột nhập khẩu. Không như ngành mía đường, không có mía thì nhà máy đắp chiếu chờ chết, đằng này không có sữa tươi nguyên liệu, nhà máy sữa vẫn chạy, vì đã có sữa bột nhập từ bên ngoài. Và từ sữa bột, người ta có thể chế thành sữa cô đặc có đường và đủ các loại sữa, kể cả sữa tươi hoàn nguyên. Vì thế, nhiều nơi chưa nuôi hoặc có rất ít bò sữa, nhưng người ta đã cho lập nhà máy sữa. Cũng cần biết thêm là sản phẩm sữa sản xuất tại Việt Nam không chỉ tiêu thụ trong nước, một phần khá lớn được xuất khẩu sang thị trường Trung Đông. Các con số thống kê xuất nhập khẩu của những năm qua cho thấy, có năm nước ta phải bỏ ra gần 229 triệu USD để nhập sữa và các sản phẩm sữa, thì cũng năm ấy ta đã xuất khẩu được một lượng sữa và sản phẩm sữa trị giá hơn 187 triệu  USD (81% giá trị nhập khẩu).

Sắp tới, các Cty sản xuất sữa có thể nâng giá thu mua sữa tươi lên chút ít, đó là điều tốt, nhưng không hy vọng điều này có thể giúp nhiều cho ngành nuôi bò sữa, vì giá thu mua sữa tươi luôn bị đánh giá theo thành phần và chất lượng vệ sinh, hơn nữa việc điều chỉnh giá thường không theo kịp sự tăng giá của thức ăn gia súc.
 
Trong cơ chế thị trường, người sản xuất cần phải biết chọn lợi thế để có thể sản xuất ra mặt hàng có tính cạnh tranh cao. Những vùng nuôi bò sữa thành công là những nơi biết quản lý tốt, người nuôi có tay nghề cao, để từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Đáng tiếc là những điều kiện ấy thường là thiếu ở các vùng mới nuôi bò sữa, vì vậy đã xảy ra khá nhiều bê bối.
 
Rõ ràng là trong điều kiện hiện nay, nuôi bò sữa nông hộ đang đứng trước sự cạnh tranh quyết liệt và lợi thế thị trường không thuộc về họ. Đây  là  vấn đề mà các nhà quản lý cần sớm xem xét để giúp nông dân vượt qua khó khăn, tìm được lợi ích trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.

Cùng chuyên mục