Một trong những điều kiện quan trọng giúp nông dân vươn lên phát triển sản xuất kinh doanh là sự hỗ trợ về vốn tín dụng. Chính vì thế mà hiện nay, vấn đề hỗ trợ vốn tín dụng cho nông dân đang được tỉnh và các cấp, ngành quan tâm triển khai.
Hướng về tam nông
Để phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2010-2020, Quảng Ninh đã ban hành và triển khai thực hiện một số chính sách riêng của tỉnh; trong đó có chính sách “Hỗ trợ lãi suất đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp theo Quyết định 2009/QĐ-UBND” (gọi tắt là QĐ 2009). Thống kê từ năm 2012 đến hết tháng 10-2015, các địa phương đã tiếp nhận 929 hồ sơ hỗ trợ lãi suất. Tổng số hồ sơ đã thẩm định và được hỗ trợ lãi suất là 691; tổng số kinh phí hỗ trợ từ ngân sách là gần 19 tỷ đồng. Từ sự hỗ trợ của ngân sách, các hộ sản xuất đã vay ngân hàng trên 373 tỷ đồng (tương đương 100% ngân sách tỉnh đã hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất trong năm 2013 và năm 2014). Với nguồn vốn trên, nhiều mô hình sản xuất hàng hoá theo hướng hợp tác liên kết, nhiều doanh nghiệp, HTX trên địa bàn nông thôn được thành lập; nông dân tích cực tham gia các chương trình sản xuất hàng hoá nông nghiệp tập trung, chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”. Cụ thể, trong lĩnh vực đầu tư mới hoặc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá đạt 116 tỷ đồng; đầu tư sản xuất các sản phẩm thuộc chương trình phát triển thương hiệu đạt 225 tỷ đồng; đầu tư các hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá, hoạt động bắt hải sản ở vùng biển xa bờ đạt gần 14 tỷ đồng…
Theo đánh giá của các địa phương, sau hơn 2 năm thực hiện, chính sách hỗ trợ lãi suất vốn vay đã thực sự đi vào cuộc sống, giúp nông dân nâng cao tính chủ động, có sự hạch toán kỹ càng khi sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, các dự án sản xuất được đầu tư có hiệu quả hơn.
Bên cạnh sự hỗ trợ, quan tâm và vào cuộc mạnh mẽ của tỉnh, thời gian qua, ngành Ngân hàng cũng tích cực đẩy mạnh vốn về nông thôn và tăng cường “bắt tay” với nông dân. Năm 2014, kể từ sau khi Hội Nông dân tỉnh và Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Quảng Ninh ký chương trình phối hợp tổ chức thực hiện chính sách tín dụng phục vụ, phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP (hiện thay thế là Nghị định số 55/NĐ-CP). Đến nay đã có 10/14 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh ký chương trình phối hợp với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước cấp huyện; hội nông dân tại 41 xã đã ký hợp đồng với Chi nhánh Ngân hàng loại III trên địa bàn để tham gia thực hiện một số khâu của nghiệp vụ tín dụng do Ngân hàng Nhà nước uỷ nhiệm. Với sự phối hợp chặt chẽ này, tổng dư nợ vay vốn của ngân hàng qua kênh Hội Nông dân tăng gấp 3 lần so với năm 2014 (đạt gần 110 tỷ đồng). Đáng chú ý là từ năm 2014, một số ngân hàng thương mại cũng đã bắt đầu vào cuộc cho nông dân trên địa bàn tỉnh vay vốn. Điển hình như Ngân hàng CP Thương mại Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), sau 2 năm đã có trên 33 tỷ đồng vốn vay dành cho nông dân.
Tháo gỡ những "nút thắt"
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất theo QĐ 2009 vẫn còn những hạn chế. Cụ thể: Tiến độ triển khai công tác hướng dẫn, tập huấn và sửa đổi bổ sung nội dung cơ chế chính sách để phù hợp với thực tế còn chậm; mức độ hấp thu nguồn ngân sách hỗ trợ lãi suất còn thấp, thực hiện cả năm 2015 mới đạt khoảng 27 tỷ đồng (dự kiến đặt ra là 162 tỷ đồng); nhiều hộ sử dụng đất trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng nhận trang trại, đã ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của người dân. Để khắc phục những hạn chế trên, tháng 12-2015, UBND tỉnh đã có Quyết định số 4204/QĐ-UBND về việc ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất vốn vay đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020. Theo đó, chính sách mới đã sửa đổi, bổ sung theo hướng giảm các khâu, thủ tục hành chính để tạo điều kiện tối đa cho các tổ chức, cá nhân tiếp cận nguồn vốn tín dụng; tăng mức hỗ trợ lãi suất lên 6%/năm/số dư nợ thực tế; mỗi dự án, phương án sản xuất kinh doanh được hỗ trợ lãi suất có mức dư nợ tối thiểu là 50 triệu đồng và tối đa 10 tỷ đồng trên địa bàn 1 huyện, thị xã, thành phố… Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả đặt ra và tránh lặp lại những hạn chế như khi triển khai QĐ 2009, các địa phương cần sớm hoàn thiện công tác quy hoạch chi tiết vùng sản xuất tập trung, phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành trong việc thẩm định các dự án đầu tư phát triển sản xuất. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn nội dung của chính sách đến HTX và người sản xuất.
Nghị định 55/NĐ-CP có nhiều thay đổi mang tính đột phá về hạn mức, đối tượng cho vay, từ đó có thể đem lại “cú hích” quan trọng cho tín dụng trong nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, chính sách này vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả. Đơn cử như mặc dù mức cho vay không có tài sản đảm bảo đã tăng gấp 1,5-2 lần so với Nghị định 41/NĐ-CP và bổ sung thêm 2 nhóm đối tượng được vay vốn không có tài sản đảm bảo (các HTX, liên hiệp HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản); tuy nhiên, tính đến tháng 11-2015, tỷ trọng dư nợ cho vay đối với các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chiếm tỷ lệ rất nhỏ (9,4% tổng dư nợ cho vay các loại hình HTX) và chưa có HTX nông nghiệp nào được vay không có tài sản đảm bảo. Nhiều hộ nông dân ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh cũng chưa tiếp cận được với nguồn tín dụng này. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do chưa có sự phối hợp cụ thể giữa ngân hàng và các đoàn thể chính trị ở một số địa phương, công tác tuyên truyền chưa nhiều, nên các đối tượng được hưởng chính sách còn ít biết đến chính sách này. Một số tổ chức tín dụng cũng chưa thực sự quan tâm đến việc hướng dẫn về quy trình, thủ tục cho vay theo hướng rõ ràng, minh bạch, đơn giản tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong tiếp cận vốn vay.
Quyết định 4204/QĐ-UBND của UBND tỉnh và các chính sách hỗ trợ tín dụng của Nhà nước, ngành Ngân hàng đã, đang được kỳ vọng là tạo bước đột phá cho tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Hành lang pháp lý đã có, vấn đề đặt ra là các cấp, các ngành phải thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình để những chính sách này phát huy hiệu quả trong thực tiễn cuộc sống, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho người nông dân.
Hoàng Nga